Bằng Việt và các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài P1

Nhà thơ Bằng Việt là một trong những nhà thơ tài năng của nền thơ ca Việt Nam với nhiều giải thưởng lớn. Năm 2005, ông đạt giải “Giải thành tựu trọn đời” của Hội Nhà văn Hà Nội cho Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX, với nhận xét: “Nhiều bài đã trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong bốn thập kỷ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người chuyển ngữ. Giải trao cho nhà thơ Bằng Việt để ghi nhận thành tựu trọn đời của một dịch giả tài hoa có nhiều đóng góp trong hoạt động giới thiệu văn chương nước ngoài”.

Thơ dịch của Bertolt Brecht

Câu chuyện thật về người săn chuột ở Hamen Die wahre Geschichte vom Rattenfänger von Hameln

Die wahre Geschichte vom Rattenfänger von Hameln
Der Rattenfänger von Hameln
Durch die Stadt ist er gegangen
Hat mit seinem Pfeifen all die
Tausend Kindlein eingefangen
Er pfiff hübsch. Er pfiff lang.
‘s war ein wunderbarer Klang.

Der Rattenfänger von Hameln
Aus der Stadt wollt er sie retten
Daß die Kindlein einen bessern
Ort zum Größerwerden hätten
Er pfiff hübsch. Er pfiff lang.
‘s war ein wunderbarer Klang.

Der Rattenfänger von Hameln
Wohin hat er sie verführet?
Denn die Kleinen waren alle
Tief im Herzen aufgerühret.
Er pfiff hübsch. Er pfiff lang.
‘s war ein wunderbarer Klang.

Der Rattenfänger von Hameln
Als er aus der Stadt gegangen
Hat ihm, heißt es, sein Gepfeife
Selbst die Sinne eingefangen.
Ich pfeif hübsch. Ich pfeif lang.
‘s ist ein wunderbarer Klang.

Der Rattenfänger von Hameln
Um den Berg ist er gebogen
Hat die Kindlein aus Versehn
In die Stadt zurückgezogen.
Pfiff zu hübsch. Pfiff zu lang.
‘s war zu wunderbarer ein Klang.

Der Rattenfänger von Hameln
Haben sie am Markt gehangen
Aber um sein Pfeifen, Pfeifen
Ist noch lang die Red gegangen.
Er pfiff hübsch. Er pfiff lang.
‘s war ein wunderbarer Klang.

Người săn chuột ở thành phố Hamen
Ai ở Hamel mà chẳng biết
Người lặng lẽ vừa đi vừa thổi sáo
Lôi cuốn theo sau từng đám trẻ con
Sáo réo rắt, trẻ con thì mê tít
Âm điệu diệu kỳ quyến mãi không thôi

Người săn chuột ở thành phố Hamen
Ngày ngày rong chơi cùng trẻ nhỏ
Đi tha thẩn như muốn tìm ra chỗ
Cho trẻ con được tới đó vui đùa
Sáo réo rắt, trẻ con thì mê tít
Âm điệu diệu kỳ quyến mãi không thôi

Người săn chuột ở thành phố Hamen
Dẫn trẻ tới những nơi nào phía trước?
Mắt lũ trẻ đều rưng rưng cảm phục
Được vui thế này, có dễ gì đâu
Sáo réo rắt, trẻ con thì mê tít
Âm điệu diệu kỳ quyến mãi không thôi

Người săn chuột ở thành phố Hamen
Chẳng còn đi đâu xa hơn được nữa
Dẫn vào núi, loanh quanh vài lối lạ
Lại lạc đường, quay lại chỗ ban đầu
Sáo réo rắt, trẻ con thì mê tít
Âm điệu diệu kỳ quyến mãi không thôi

Người săn chuột ở thành phố Hamen
Sau nghe nói bị người ta treo cổ
Còn tiếng sáo, tiếng sáo say lòng đó
Người ta còn bàn tán khắp trăm nơi
Sáo réo rắt, trẻ con thì mê tít
Âm điệu diệu kỳ quyến mãi không thôi

Chỗ nghỉ đêm Das Nachtlager

Das Nachtlager
Ich höre, daß in New York
An der Ecke der 26. Straße und des Broadway
Während der Wintermonate jeden Abend ein Mann steht
Und den Obdachlosen, die sich ansammeln
Durch Bitten an Vorübergehende ein Nachtlager verschafft.

Die Welt wird dadurch nicht anders
Die Beziehungen zwischen den Menschen bessern sich nicht
Das Zeitalter der Ausbeutung wird dadurch nicht verkürzt
Aber einige Männer haben ein Nachtlager
Der Wind wird von ihnen eine Nacht lang abgehalten
Der ihnen zugedachte Schnee fällt auf die Straße.

Leg das Buch nicht nieder, der du das liesest, Mensch.

Einige Menschen haben ein Nachtlager
Der Wind wird von ihnen eine Nacht lang abgehalten
Der ihnen zugedachte Schnee fällt auf die Straße
Aber die Welt wird dadurch nicht anders
Die Beziehungen zwischen den Menschen bessern sich dadurch nicht
Das Zeitalter der Ausbeutung wird dadurch nicht verkürzt.

Nghe nói ở New York
Trên góc phố Broadway và Đại lộ 26
Mỗi chiều mùa đông thường có một người
Đứng hỏi những ai qua lại không nhà
Có cần nghỉ đêm thì đưa về nghỉ tạm

Thế giới chẳng đổi thay gì vì việc đó
Quan hệ người với người cũng chẳng tốt gì hơn
Thế kỷ bóc lột này cũng không thể ngắn đi
Dẫu một vài người được thêm chỗ ngủ
Vẻn vẹn một đêm che thân khỏi gió
Và tuyết lạnh không rơi vào ai lại rơi xuống mặt đường

Dẫu một vài người được thêm chỗ ngủ
Vẻn vẹn một đêm che thân khỏi gió
Và tuyết lạnh không rơi vào ai lại rơi xuống mặt đường
Nhưng thế giới chẳng đổi thay gì vì việc đó
Quan hệ người với người cũng chẳng tốt gì
Và chẳng thể ngắn đi thế kỷ đầy bóc lột

Chờ thay lốp xe Der radwechsel

Der radwechsel
Ich sitze am Straßenrand
Der Fahrer wechselt das Rad.
Ich bin nicht gern, wo ich herkomme.
Ich bin nicht gern, wo ich hinfahre.

Warum sehe ich den Radwechsel
Mit Ungeduld?

Tôi ngồi xuống lề đường
Chờ người lái xe thay lốp mới
Nơi tôi ở không còn gì chờ đợi
Nơi tôi đi cũng chẳng có gì hơn!

Vì sao tôi vẫn trông
Sốt ruột khi thay lốp?

Sự lưu lạc của các nhà thơ Die Auswanderung der Dichter

Die Auswanderung der Dichter
Homer hatte kein Heim
Und Dante mußte das seine verlassen.
Li-Po und Tu-Fu irrten durch Bürgerkriege
Die 30 Millionen Menschen verschlangen
Dem Euripides drohte man mit Prozessen
Und dem sterbenden Shakespeare hielt man den

Den François Villon suchte nicht nur die Muse
Sondern auch die Polizei.

“Der Geliebte” genannt
Ging Lukrez in die Verbannung
So Heine, und so auch floh
Brecht unter das danische Strohdach.

Homer vốn chẳng có nhà
Dante thì lại rời bỏ nó
Lý Bạch và Đỗ Phủ
Vì chiến tranh đều phải sống giang hồ
Giữa 30 triệu sinh linh chết chóc
Bị buộc tội ra toà là Euripides
Bị bịt miệng lìa đời là Shakespeare

François Villon đâu chỉ có Nàng Thơ đi theo
Mà lại là cảnh sát

Lukrez mang danh “sủng thần” để rồi bị trục xuất
Và những mái rơm nghèo Đan Mạch xác xơ
Heine ở xưa kia,
thì Brecht đến bây giờ

Thay bánh xe Der Radwechsel

Der Radwechsel
Der Radwechsel
Ich sitze am Straßenrand.
Der Fahrer wechselt das Rad.
Ich bin nicht gern, wo ich herkomme.
Ich bin nicht gern, wo ich hinfahre.
Warum sehe ich den Radwechsel
Mit Ungeduld?

Dịch nghĩa
(bởi sabina_mller)

Tôi ngồi bên vệ đường
Tài xế thay bánh xe
Tôi đến từ đâu, tôi không vui lắm
Tôi đi đâu, toi không vui lắm.
Thế tại sao tôi nhìn (người ta) thay bánh xe
Với sự thiếu kiên nhẫn?

Tôi ngồi xuống lề đường
Chờ người lái xe thay lốp mới
Nơi tôi ở không còn gì chờ đợi
Nơi tôi đi cũng chẳng có gì hơn!

Vì sao tôi vẫn bồn chồn
Chờ người thay lốp mới ?

Thủ tục Der demokratische Richter

Der demokratische Richter
In Los Angeles vor den Richter, der die Leute examiniert
Die sich bemühen, Bürger der Vereinigten Staaten zu werden
Kam auch ein italienischer Gastwirt. Nach ernsthafter Vorbereitung
Leider behindert durch seine Unkenntnis der neuen Sprache
Anwortete er im Examen auf die Frage:
Was bedeutet das 8. Amendment? zögernd:
1492.
Da das Gesetz die Kenntnis der Landessprache dem Bewerber vorschreibt
Wurde er abgewiesen. Wiederkommend
Nach drei Monaten, verbracht mit weiteren Studien
Freilich immer noch behindert durch die Unkenntnis der neuen Sprache
Bekam er diesmal die Frage vorgelegt: Wer
War der General, der im Bürgerkrieg siegte? Seine Antwort war:
1492, (Laut und freundlich erteilt.) Wieder weggeschickt
Und ein drittes Mal wiederkommend, beantwortete er
Eine dritte Frage: Für wie viele Jahre wird der Präsident gewählt?
Wieder mit: 1492. Nun
Erkannte der Richter, dem der Mann gefiel, dass er die neue Sprache
Nicht lernen konnte, erkundigt sich
Wie er lebte, und erfuhr: schwer arbeitend. Und so
legte ihm der Richter beim vierten Erscheinen die Frage vor:
Wann
Wurde Amerika entdeckt: und auf Grund seiner richtigen Antwort
1492, erhielt er die Bürgerschaft.

Ở Los Angeles, ai nhập quốc tịch Hoa Kỳ
Phải qua cửa một quan toà xét hỏi

Một chủ tiệm ăn người Ý
Vất vả vì không thông tiếng Anh – tiếng quốc gia chính thống

Nghe quan toà hỏi:
– “Điều thứ 8 trong Hiến pháp Hoa Kỳ có gì được sửa?”
Bèn ấp úng trả lời: “1492”
Và bị Toà bác đơn tức khắc

Ba tháng au đã miệt mài học tập
Ông lại đến Toà. Nghe câu hỏi như sau:
– “Vị tướng nào đã thắng trong nội chiến?”
Ông rành rọt trả lời: “1492”
Rất ngạc nhiên, ông lại bị đuổi về. Lần tiếp
Nghe câu hỏi: “Thời hạn bầu Tổng thống l;à mấy năm?”
Ông nhất mực trả lời: “1492”
Và vị quan toà hiểu rằng ông chủ tiệm ăn
Không bao giờ hiểu được tiếng quốc gia chính thống
Đành mời ông đến lần thứ 4 cho chót
Và hỏi: “Châu Mỹ lần đầu được tìm thấy năm nào?”
Lần này, trên cơ sở câu trả lời chính xác hoàn toàn: “1492”
Ông chủ tiệm ăn liền được làm thủ tục

Thơ dịch của tác giả Boris Kornilov

Về “Bài thơ cuộc đời”

Đừng nhắc nữa em ơi
Lỗi lầm thời quá khứ.
Ngôi sao bùng đốm lửa
Đâu còn nữa màu xanh.

Con chim nhỏ chuyền cành
Cũng bay theo tiếng hát,
Tìm một chiều giá buốt
Hoa sặc sỡ lo âu.

Dòng sông trôi về đâu
Nói làm chi cho khổ
Tình yêu con thuyền nhỏ
Buồm trôi nơi xa khơi.

Gặp gỡ, rồi chia phôi
Yêu thương rồi oán trách
Bây giờ đã xa cách
Nhắc lại mà làm chi.

Thời gian mãi trôi đi
Buồn vui thành kỷ niệm
Bài thơ là câu chuyện
Của ban đầu tình yêu.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thơ dịch của Cecília Meireles

Tôi

Rẻo cát dài như cuộc đời tôi
Nơi đan dệt vòng vèo biết bao dấu tích!

Con sò rỗng không như tiếng lòng tôi
Nơi hút gió u u, giấu đi niềm xúc động

Mảnh san hô gãy rời là nỗi đau tôi
Chứng tích vật vã vô số lần va đập…

Tôi để lại đại dương là di sản dữ dằn

Nơi ngọn sóng lãng quên sẽ rửa sạch tình yêu tôi mãnh liệt.

Thơ dịch của osta Andrade

Bài thơ tố cáo Poema quarto de um canto de acusação

Poema quarto de um canto de acusação
Há sobre a terra 50 000 mortos que ninguém chorou
sobre a terra
insepultos
50 000 mortos
que ninguém chorou.

Mil Guernicas e a palavra dos pincéis de Orozco e de Siqueiros
do tamanho do mar este silêncio
espalhado sobre a terra

como se chuvas chovessem sangue
como se os cabelos rudes fossem capim de muitos metros
como se as bocas condenassem
no preciso instante das suas 50 000 mortes
todos os vivos da terra.

Há sobre a terra 50 000 mortos
que ninguém chorou

ninguém…

As Mães de Angola
caíram com seus filhos

Trên mảnh đất 50 000 người đã chết
Không ai khóc than
Không ai chôn cất
50 000 người chết trên cùng mảnh đất
Không ai khóc than một lời!

Sự lặng thinh của nghìn thảm kịch Guernicas
Cả ngàn bức tranh Orozco và Siqueiros
Sự lặng thinh căng phồng như biển
Phơi ra dưới mặt trời

Có thể nào đẻ mưa rào làm phai vết máu
Để những mớ tóc rụng vào cỏ dại trăm nơi
Có thể nào miệng những người bị giết
Không có quyền phán xét một lời?
Có thể nào chỉ mỗi sự lặng thinh
Phơi trần trên mặt đất?

Tổ quốc ơi! 50 000 người đã chết
Không ai khóc than

Nào có thể còn ai?

Khi những người mẹ Angola
Tất thảy đã cùng con mình ngã xuống!

Thơ dịch của Erik Axel Karlfeldt

Bài ca thở than cho một người nông dân quá cố Klagosång över en lantman

Klagosång över en lantman
Du sådde din säd,
guldregnet flöt ur din hand.
Du satte träd
och blomster vid åkrarnas rand.
I skuggande rågar
nu kornknarren spelar ditt lov,
och piplärkan stiger i bågar
och prisar ditt lövrika hov.

Du byggde ditt hus
av kärniga skogars trä,
din bjälksal för högtidens brus,
ditt drömloft i lönnkronans lä.
I spiltan och båsen
står boskapen trygg vid sin spis,
och svalan far ut under åsen
och kvittrar sin husfaders pris.

Du sådde din säd,
kraftig din livsbölja flöt,
och stark som ett träd
din stam sina telningar sköt.
Av flickor och gossar
en ätt i oändliga led
skall odla de hedar och mossar
där släktfadern gladdes och stred.

Ditt väsen var kärvt,
din själ var enkel och stor,
ty allt vad du var, det var ärvt
från jorden, din stränga mor.
Hon höll dig i aga,
hon skiftade mildhet och ris,
tills hon tog dig in i sin saga,
sitt drömmande paradis.

Är kvällen ej skön
för markens dagströtte son?
Som asplundens bön
förgår i en stormnatts dån,
som bjuggstrået domnar
med glädje vid skördarens fot,
som örten om hösten välkomnar
sin vila i lök och rot…

Nu nejden står sval
i hämmat flor kring din bår,
ty månen, färglös och smal,
ännu i sitt kråknedan går,
och träden vaka
kring huset med ängslig blåst,
och tunnklädda knoppar skaka
i järnnattens blånande frost.

Nu står vår lust
till sommarens leende ny.
Skall jorden få must
och gro under nattvarm sky?
Skall sådden få börja
i tecknens behagliga tid?
Vi levande spörja och sörja,
men du är bärgad i frid.

Vi lyfta dig upp
och bära dig bort att bo
där aldrig en manande tupp
skall störa din morgonro.
På ren och vid dike
det viskar där fram du drar;
ett grönt och blommande rike
har mist sin herre och far.

Bác đã gieo hạt lúa mì
Và cơn mưa hạt vàng tuôn chảy từ bàn tay của bác
Bác đã trồng nhiều cây
Chăm bón nhiều vạt hoa nở bên bờ ruộng
Giữa biết bao gié lúa chất chồng toả bóng
Chỉ tiếng rì rào của bông lúa thơm mới làm bác nức lòng!
Cả khi ngắm chú chim chiền chiện bay cao, vẽ những vòng tròn
Và cả khi nhìn rõ cơ nghiệp mình nổi trội, ánh lên trong vòm lá!

Bác đã xây nhà
Tự tay đi xẻ gỗ từ rừng mình gây giống
Căn phong chọn từng chiếc xà mộc, gợi không khí dân gian lễ hội
Tầng áp mái lại đầy mộng mơ
như cất giấu vòng nguyệt quế của cây phong
Trong những chuồng ngựa, chuồng bò
Lũ súc vật chẳng phải gào rống gì, được nuôi ăn bình thản
Và tít trên mái cao là tổ con chim én
Cũng ríu rít ngợi ca ông chủ cả ngôi nhà!

Bác đã gieo hạt lúa mì
Đợt sóng mạnh của đời mình đã chảy!
Bác như thân cây đứng thẳng
Xung quanh cành ká sum suê
Con gái và con trai
Đầy ắp một gia đình có đông người nối dõi!
Đủ sức khai khẩn nốt trảng cỏ hoang và đầm lầy
Ông cha lặn lội, vỡ hoang rồi thừa kế

Bác bề ngoài nhìn cục mịch và thô nhám
Nhưng dung dị và lớn lao trong hồn
Vì những gì có trong đời, bác đều thụ hưởng
Từ đất đai – Mẹ nghiêm khắc tận cùng!
Bà dạy bác suốt đời cứng rắn
Chia sẻ lòng dịu hiền và thưởng phạt công bằng
Cho đến phút này bà đưa bác vào cõi thiên thu
Cũng là cõi thiên đường đầy mộng ước

Buổi tối ấy có còn tươi đẹp chăng
Dành cho đứa con của đất đai, đã suốt ngày say sưa công việc?
Có giống lời nguyện cầu của cánh rừng dương liễu
Tan biến trong tiếng ồn ào của một đêm bão giông?
Hay như bông lúa mạch khô nỏ và rụng rơi
Mãn nguyện ngay dưới chân người đi gặt?
Như một nhành cây, sang mùa thu vui thích
Được thành củ thành rễ, yên mình trong đất nghỉ ngơi?

Đất quê bây giờ giống như tươi mát lại
Làm tấm buồm chở che con người bọc kín trong chiếc cáng
Còn mặt trăng nhạt màu và mảnh dẻ
Vừa đi vừa thu nhỏ lại dần
Những hàng cây đứng gác trang nghiêm
Quanh ngôi nhà cùng ngọn gió lo buồn quanh quẩn
Và những chồi non nhẹ nhàng mặc áo
Run rẩy tronh hơi giá xanh lơ của đêm lạnh cứng nặng nề!

Và bây giờ, nỗi khao khát của chúng tôi
Là lại được hướng đến vầng trăng khuyết mùa hè cười mỉm
Đất – chắc hẳn tự nhận ra hương vị?
Và gié lúa tự lên hương – trong tiết ấm đêm giao mùa?
Và mùa gieo hạt chắc chắn lại được gieo
Trong một tiết trời thuận lợi
Những người đang sống sẽ phải đặt tiếp câu hỏi
và lo tiếp những nỗi lo về sau
Còn riêng bác, đã được gặt hái về Trời, bác có quyền yên nghỉ!

Chúng tôi khiêng bác lên vai
Và đưa bác đến nơi vĩnh hằng
Nơi không tiếng gà nào buổi sáng gáy lên
Còn lay động tới nơi bác ngủ!
Suốt dọc đường đi, tới chiều dài thăm thẳm của nơi vĩnh biệt
Một tiếng thì thào cất lên, khi tiễn bác đi qua
Từ nay, vương quốc tươi xanh, vương quốc nở hoa
Đã mất đi người chủ và người cha thật sự!

Bài hát tình yêu Minnesång

Minnesång
Amour, amour! Min kärlek är en lur
som ropar högt på stridens dag emot ditt hjärtas mur.
Amour, amour! Min kärlek är en sträng
som darrar svagt och drömmande i mörkret vid din säng.

Amour, amour! Min kärlek är en fur
som stöder stark på stormens berg din lyckas lugna bur.
Amour, amour! Min kärlek är en ek
vars virke blir ditt helgonskrin, då du är död och blek.

Tình yêu, tình yêu! Tình yêu có như tiếng tù và
Thổi kiên trì mỗi ngày để lọt qua thành trái tim em bé nhỏ?
Tình yêu, tình yêu! Tình yêu có như tiếng đàn dây
Run rẩy, mơ mộng, yếu mềm, lay động quanh giường em khi ngủ?

Tình yêu, tình yêu! Tình yêu có giống cây tùng xum xuê
Đứng chắc chắn trên ngọn núi đầy bão giông, nơi em cần yên tĩnh
Tình yêu, tình yêu! Tình yêu có giống cây sồi chắc nịch
Để được xẻ làm hòm rương, ôm thánh thể của em khi em qua đời!

Chiếc cối xay thần kỳ (Tranh dân gian) Den underbara kvarnen (Dalmålning)

Den underbara kvarnen (Dalmålning)
Se kvarnen, hon skiner
som guld och rubiner,
och kvarnlekan smäller och löparen viner.
Dess stolpar stå fasta som himmelens stoder;
dem välta ej vindar, dem störta ej floder.
Dess kar är av silver, av jaspis är skruven,
och Salomos insegel glänser på huven.
Att stå vid dess brädd och se in i dess öga,
det är som att se i det djupa och höga.
Nu öppnar sig porten med poster av marmor,
och kvarndrängen ropar: “Kom farfar, kom farmor!
Här är er bebådat
vad aldrig I skådat,
ty agnar bli vete och kärnlöst blir tungt,
och kvarntorrt blir saftigt och gammalt blir ungt.”

Se, gubbarne tåga
med ryggen i båga
och knuffa sig fram efter ringa förmåga.
Det haltar och hasar,
det skyvar och sjasar.
Här skolen I se, I bedrövliga masar!
Här står en i gapet. Rickrickettirack!
Här dansar han fram som en brudgum i frack.
Här stupar hans granne i morrande trut.
Gubbe in, gosse ut!

Se gumman med käppen
och pipan på läppen
och tröjan som slinker och skor utan knäppen.
Hon dyker i tratten. Rickrickettiratt!
Strax står där en fröken med flor och med hatt,
och mjölnarn tar tull
på livstyckets hull
och får handen full.
Här komma de alla i link och i kut.
Käring in, flicka ut!

Se paret som mötes där löven slå samman,
där svärdsliljan tänder den strimmiga flamman,
och jungfrun hon niger med rodnande kinder,
och ynglingen lyfter sin stolta cylinder:
“Vi kysstes för femtio år sen, min vän.”
“Kyss igen, kyss igen!”

Jag går som förlorad där vårbäcken skvaltar,
jag går över åsar som rakade galtar,
och kvarnforsen dunsar i gistnade rännor,
och kvarnvinden kommer med visslande pennor,
det dånar som vingar av ungdom och vår.
Jag gick och jag sökte i många de år.
Jag frågade långt uppåt Sömlinghågna,
där fjällen för himmelens takstolar bågna:
“Vart äro de ljuvliga mjölnarne gångna?”
Då upplät ett bergtroll sin smädliga trut:
“Gubbe in, gubbe ut!”

Nhìn thấy cối xay chưa, cối quay tròn lấp loáng
Như ánh vàng, như ánh ngọc rubi
Nắp van kêu lanh canh, cối vừa quay vừa hát
Những cột đế chắc như những cột đá chống trời!

Gió không thể làm nó lật
Sông có trào lên, nó cũng không chìm!
Thùng xay làm bằng bạc, mặt xoáy trôn ốc bằng đá quý
Con dấu đồng niêm phong của vua lấp lánh nắp thùng
Đứng vào đúng chỗ tiếp cận ngắm nhìn
Càng được thấy sâu hơn và cũng cao hơn nữa!

Cửa cối xay mở ra giữa hai cột đá hoa cương
Và ông phó cối vừa xuất hiện, vội kêu to:
“Vào chỗ này, cụ ông ơi! Chỗ này chứ, cụ bà lưu ý!”
Họ thông báo một điều gì lạ mà anh không hề nhìn thấy
Vì ở cối này, cám sẽ được biến thành bột mì
Rơm sẽ hoá nặng thêm vì hạt
Những gì khó có thể thành ra nhão
Và những gì đã già, lại cải lão hoàn đồng!

Hãy nhìn những người già bước vào, nối dài từng đám
Lưng gồng lên, chen lấn lẫn nhau
Ở mức độ yếu dần của nguồn sức lực
Họ khập khiễng và lê đi
Vừa kiễng chân vừa xô đẩy
Anh đã thấy điều anh cần phải thấy
Những người nông dân tội nghiệp một đời!
Và đây, một người rơi vào cái mõm cối mở hoác ra
Cái mõm nhai luôn – cục kịch, cục kịch!
Thế rồi ông ta bật ra và nhảy múa
Và kìa, người kế bên, lại chọn chỗ rơi tõm vào một cái phễu-mồm
Cái mồm ấy gào lên: Ai vào đây già, trở ra thành trẻ lại!

Hãy nhìn bà già kia, đang còn chống gậy
Vừa rít tẩu thuốc vừa đi
Cái áo dệt thùng thình, đôi giày gần há mõm
Bà ta cũng rơi vào trong miệng phễu
Lại cục kịch, cục kịch – nghe có tiếng nhai!
Thế rồi trở ra – đã là tiểu thư đội mũ choàng khăn che mặt
Và bây giờ, đến lượt ông chủ cối xay
lấy ra những gì thế gian giao nộp
Ông vốc đầy hai tay, từ trong lòng cối trần, dưới lớp yếm che
Tất cả đây rồi, họ tươi tỉnh, ngồi xổm, đánh chân, đánh gót
Là các mụ già khi vào, giờ ra lò đều là thiếu nữ măng tơ!

Hãy nhìn đôi uyên ương gặp lại nhau trong cối
ở chỗ lá khô từng kẹt lại rối bời
Một đoá hoa lay-ơn có sọc dài như tia lửa soi lên
Nàng trinh nữ đầy tôn vinh, má đỏ bừng ngượng ngập
Và chàng trai giơ cao chiếc mũ quý phái có thành hình ống
“Nào, chúng ta ôm hôn đi, ôm nhau lại nào, hỡi em yêu quý
Chả phải là chúng ta từng đã ôm nhau từ năm chục năm xưa?”

Tôi đi như một người bị lạc vào dòng nước xiết mùa xuân
Trên những quả đồi nhẵn trơn như da lợn vừa được cạo!
Và dòng thác từ cối xay tuôn ra ầm ầm
vào các máng dẫn mới đây còn khô kiệt
Và trận gió thổi vào cánh cối xay làm nó vừa rít vừa quay
Tôi tưởng đó chính là cánh bay
của tuổi trẻ và mùa xuân vĩnh cửu

Và không biết đã bao năm, tôi đi tìm như thế
Tới tận miền Bắc Âu, trên những đỉnh Sömlinghågna
Nơi những ngọn núi nặng trĩu tư duy dưới rầm trời tít tắp
Và tôi hỏi: “Đã biến mất đâu rồi
những ông phó cối thần kỳ như thế!”
Chỉ thấy con ma xó trên núi cao vẩn vơ cười khẩy nhạo tôi:
“Già lẫn rồi, cho vào cối, thì chỉ có khi ra vẫn già khú đế!”

Di chúc Testamente

Testamente
Nu slocknar daggens glitter
och skyarna förstoras,
och alla fåglars kvitter
i klanglös rymd förloras;
och majvind lyfter vingen
som Eols bud och Floras,
men det är rök kring tingen,
och luften känns mig trång.

Jag vandrar mot ett drömland,
jag vet ej vad det heter,
ett bergland, ett strömland,
där luften är som eter,
där alla grenar gunga
hänryckningens poeter
och alla vindar sjunga
det nya livets sång.

Det står i syner skära,
när dagarna bli korta,
och kanske är det nära,
men kanske fjärran borta;
och jag är tung till sinnes
av allt jag haft att bära
och allting ont jag minnes,
och vägen blir mig lång.

Så ger jag åt en annan
min stav, mitt pilgrimsbälte.
Hell dig med ljusa pannan
och blick av munter hjälte!
Sök bortom berg och strömmar
min ökensyn som smälte.
Jag ger dig mina drömmar
som arv och laga fång.

Och du har allt att vinna
och intet att försona,
och fort kan lyckan tvinna
den djärves lagerkrona.
Och du är lätt i stegen,
och kanske skall du hinna
den nejd som är din egen,
min son, en gång, en gång.

Bây giờ, ánh ngày lấp loá đã mờ dần
Những đám mây như dày thêm, trĩu nặng
Và tiếng chim kêu ríu rít
Rơi dần vào bầu không khí chẳng chút vang âm
Và ngọn gió tháng Năm đang vùng vẫy cánh lên
Như lời nhắn gửi của Thần Gió và Thần Hoa sắp đến
Rồi một ngọn khói phủ lên tất cả
Và không gian như giam hãm tôi ẩn náu một mình!

Tôi bước tới xứ sở tôi mơ mộng
Mà chưa bao giờ tôi được biết tên
Xứ sở toàn núi cao, xứ sở toàn thác trắng
Mà không khí thoang thoảng mùi ête
Nơi tất cả các cành cây luôn đung đưa
Nơi có các nhà thơ đang xuất thần ngây ngất
Nơi các ngọn gió đều dập dồn hối thúc
Ca ngợi một cuộc đời mới mẻ sắp nảy sinh

Mảnh đất này như hiện ra toàn một sắc hồng
Chỉ có ban ngày hầu như dần ngắn lại
Có thể ở đây chỉ đi rất gần đã hết
Mà cũng không chừng sẽ đi mãi còn xa?
Và tôi tự nhiên bỗng thấy thật buồn
Với tất cả những gì tôi đã trải
Với tất cả những gì xấu xa tôi từng nghĩ tới
Và con đường lại bỗng hoá dài thêm!

Nếu thế, tôi có thể bàn giao chiếc gậy và thắt lưng
Cho ai đó hành hương thay, khi sức mình đã kiệt
Tôi chào bạn, bạn ơi, với vầng trán cao rực sáng
Với ánh mắt nhìn không vụ lợi, vô tư, của một anh hùng!
Bạn gắng tìm ra xứ sở thần tiên đi, đâu đó giữa núi non và thác nước
Nơi tôi tưởng nhìn ra sa mạc, nhưng nay không thấy nữa rồi!
Tôi gửi gắm bạn mọi giấc mơ tôi
Làm di sản kế thừa, và nhận đủ thẩm quyền pháp lý!

Bạn hãy nhận và có trong tay tất cả
Không có gì cần sắm thêm đâu!
Dù vậy, sẽ nhanh thôi, hạnh phúc sẽ tết cho người nầo dám đi
Một vòng nguyệt quế!
Bạn sẽ có bước chân thật nhẹ
Chân cứng đá mềm, rồi sẽ đạt được mai sau
Có thể một ngày còn ở rất xa
Nhưng xứ sở trong mơ – là của bạn!

Đức vua chạy trốn Den flyende kungen

Den flyende kungen
Nyss var jag konung. Fredlös genom riket
jag flyr i dag, förhungrande. I diket
jag dignar, piskad av en hagelvind.
Omkring mig frodas tiggareranunkel.
Jag trycker bladen hårt mot hand och kind.
Då drager giftet sårnad och karbunkel,
och när jag nalkas byn, står folk vid grind:
“Tvi, se en spetälsk”, kastar till mig bröd
och rymmer vägen för kung Skam och Död.

Vừa mới đây, Ta là Vua! Giờ đã ở ngoài pháp luật
Ta đói khổ, trốn chạy ngay trong vương quốc của chính mình!
Ta cuốn tròn, ẩn thân trong hố sâu, ta lang thang trong gió quất
Những bụi hoa mao lương đáng ghét um tùm bám riết quanh Ta
Ta chui lủi, ép kín chùm lá mao lương lên mặt
Cảm nhận được nhựa độc của hoa như đang thấm vào, làm mưng mủ vết thương
Và khi Ta tới gần một thôn làng, mọi người xô ra chắn cửa:
“Cút đi! Đồ hủi!”. Và chúng thí cho Ta mẩu bánh ném ra đường
Chúng đã gạt bỏ Ta khỏi danh phận đế vương
Chỉ dành cho nỗi Tủi hổ, cho đến chỗ kiệt cùng là Cái Chết!

Khúc thánh ca mùa thu Höstpsalm

Höstpsalm
Jag såg en rosenbuske, stänkt med blod,
jag såg ett rep som gnagt en tiggarländ,
och jag gick dädan, kvalmig i mitt mod
av dödbenskult och murken munklegend.
Ut, ut i ljuset mellan Umbriens kullar,
där höstens hav i bruna vågor rullar
och oxar, böjda under breda horn,
på vita vägar släpa lass av korn.

Det går en man bredvid mig. Är det Frans,
den fattige, vars håla jag besökt?
Nej, han är mer, ty dagens hela glans
står som en gloria kring hans panna krökt
“Quo vadis?” Frågan darrar i mitt sinne.
Vart skall jag gå, då aftonen är inne?
Snabbt stiger natten upp som sot ur brand,
och jag är ensam i ett okänt land.

Men jag har hört den milda rösten förr,
och den har följt mig som en hasselblåst,
då som en tiggare från dörr till dörr
mitt hjärta gick och allt var lyckt och låst.
Bliv hos mig, mästare som tyder skriften
ej som ett spökelse ur helgongriften
men som en bordskamrat i stilla byn,
där jag vill njuta torftigt bröd och vin.

Ditt väsen kom mig när i dagens glans
blott som en bländande och snabb vision,
men närmre under kvällens törnroskrans
och närmast som en andedräkt, en ton.
Nu står mitt Umbrien, skuggans land, framför mig;
jag kräver ej att se dig, blott jag hör dig,
blott då och då du bär min själ ett bud,
min vän i vind och skymning och min Gud.

Upp stiga höstens tunga moln av brons.
Du är i dem som i det sommarblå,
din skugga reses som ett hult abskons
för dem som trött i ok och hetta gå.
I aftonlandet är min ro belägen,
mitt Emaus bland kullarna vid vägen.
Det är din närhet som gör trygg min stig,
att gå i mörkret är att gå med dig.

Tôi nhìn thấy một vườn hồng, lốm đốm như có máu!
Tôi cũng thấy một sợi dây thừng trói xiết vào mạng sườn một kẻ ăn mày
Rồi tôi bỏ đi, cảm thấy mình tức thở
Trước những hài cốt được thờ với những truyền thuyết lâu đời đã thối rữa của thầy tu
Ngoài kia, ngoài kia ư, trong những ngọn đồi của xứ Ombrie
Biển cả của mùa thu đang nổi sóng, bọt màu nâu tung toé
Và những chú bò oằn lưng dưới những đôi sừng quá lớn
Lại phải kéo trên đường những xe hạt giống nặng nề

Một người đến gần tôi. Có phải Francois đấy không
Một người nghèo mà tôi đã từng thăm viếng?
Không, còn hơn thế, vì dưới ánh sáng ban ngày
Tôi vẫn thấy một vầng hào quang trên trán người mới đến
“Quo vadis?”. Câu hỏi vang lên trong tâm trí tôi
Tôi đi đâu khi ráng chiều đã xuống?
Đêm xuống vội vàng như đám muội than sau đám cháy
Và tôi đứng một mình giữa xứ sở chẳng hề quen!

Nhưng rồi tôi cũng nghe được một tiếng nói dịu dàng
Vẫn đi theo sau tôi, như ngọn gió rì rào qua hàng cây dẻ
Đúng vào lúc tôi như kẻ ăn mày, với trái tim buồn khổ
Đi lang thang qua cửa từng nhà khoá kín trước tôi
Hãy ở lại cùng tôi, ôi bậc thầy biết diễn giải mọi điều bằng văn tự
Phải đâu một hồn ma hiện lên từ ngôi mộ thánh thần
Mà như một người bạn văn đồng điệu, trong ngôi làng xa xôi tĩnh lặng
Nơi tôi chỉ ước được thoả lòng có chút rượu ấm lòng và miếng bánh thường ăn

Anh đã đến trong ánh ngày chập choạng
Như một ảo ảnh quá nhanh, vụt sáng loá, huy hoàng
Nhưng đúng hơn, ngay dưới vòng gai của buổi chiều cô độc
Anh như hơi thở sống còn, như ấm áp một âm thanh
Đây là xứ Ombrie, xứ của Bóng tối đang bao phủ trước tôi
Tôi đâu dám ước được nhìn thấy anh, quý hồ còn được nghe anh nói
Và cứ từng lúc, từng lúc, anh mang đến cho tôi lời nhắn gửi
Hỡi người bạn và cũng là Chúa Trời của tôi, lặn lội trong gió bụi, hoàng hôn

Những đám mây chập chùng giá điếng của mùa thu thức tỉnh
Bạn đứng giữa cảnh này, vụt sáng lên như ánh biếc trời hè
Như một mái che dịu dàng, bạn toả bóng lên hồn tôi đang mệt rũ vù khô khát
Và thế là tôi được nghỉ ngơi trong xứ sở của chiều buồn
Xứ Emmaus của tôi, ở giữa những ngọn đồi, dọc con đường lớn
Sự gần gụi của bạn đã làm con đường tôi đi thêm phần vững chắc, tự tin
Ngay cả khi đi qua đêm đen, cũng là đi cùng với Bạn!

Kỷ niệm đầu tiên Första minnet

Första minnet
Det är långt, långt borta på en väg, det är halt,
svart och kalt,
det är vind, stark vind.

Någon håller i min hand och drar mig med,
höga träd,
det är vind, stark vind.

Vi gå bland andra mänskor åt ett stort, vitt hus,
dån och brus,
det är vind, stark vind.

På en stol står en kista, den är liten och vit,
vi gå dit,
det är vind, stark vind.

Xa, rất xa trên con đường, có gì như đang trơn trượt
Tối đen và lướt qua
Gió

Có một ai nắm tay tôi và còn dắt tôi đi
Những rặng cây hôm ấy nhìn sao cao thế
Gió

Giữa bao người, chúng mình đi đến một toà nhà to màu trắng
Chỉ nghe toàn tiếng ầm ào rồi tiếng rầm rì
Gió

Rồi thấy trên chiếc ghế bành có một cỗ quan tài con, nhỏ thôi và cũng trắng
Chúng mình tới, lặng lẽ và đứng nghiêm chào
Gió

Bài thơ trên nằm trong tập “Tiếng kèn mùa thu” (Höstpsalm) xuất bản lần đầu năm 1927

Lời dâng tặng Tillägnan

Tillägnan
Min mun är full av glädjerop och klagan,
min själ av dagslång storm och särlafläktar.
Jag är den stilla svärmaren i sagan
och tidens son, den feberns färla jäktar.
Jag är den siste riddaren av liljan
i dessa boleriska rosentider,
och jag är dansaren som över tiljan
de strödda purpurlöv med foten sprider.

Vid pingstens gröna grind till häst jag stiger
och far så långt som sommarns vägar irra,
och varje soldag till en fest jag viger,
där skratten smattra, sträng och sporrar klirra.
Lik en kurir vars horn har brått att ringa
sin muntra ottesång i tysta byar,
med Floras gördel framför hästens bringa
jag rider under gryningskyssta skyar.

Möt mig i kvällens land, vid kopparfloden,
där ekar spegla sina höstfestånger.
Ur dagens stungna hjärta droppar bloden,
hans bleka mun är varm ännu av sånger.
Kom, låt oss följa alla skumma drömmar
som gå med månskensögon under träden,
ty livets andedräkt, den ljumma, strömmar
jämväl ur nattens skygga sorgekväden.

Miệng tôi đầy ắp tiếng kêu gọi niềm vui cùng lời than thở
Tâm hồn tôi tràn ngập vô hồi những cơn giông
Và cả những ngọn gió chiều!
Tôi như người mộng mơ dịu dàng của bao truyền thuyết
Và là đứa con của thời gian bị cơn sốt bạo hành
Tôi – chàng hiệp sĩ cuối cùng của đoá hoa huệ trắng
Trong thời buổi chỉ có hoa hồng với những cuộc giao hoan
Tôi là chàng vũ công vừa nhảy múa trên sàn
Vừa rải khắp dọc ngang những chiếc lá màu huyết dụ

Bên lớp rào xanh ngày lễ Thánh giáng lâm, tôi lên yên ngựa
và tôi ruổi theo tới tận cùng xa mọi ngả đường của mùa hè
Cứ mỗi ngày nắng lên, là một ngày lòng tôi mở hội
Để nhịp đinh thúc ngựa khua vang, để oà lên những tiếng cười
Như một người đưa thư thổi dậy tiếng tù và vồ vập
Đánh thức những buổi sáng tươi vui trong những thôn xóm lặng thầm
Buộc thắt lưng của Thần Hoa vòng quanh ngay ức ngựa
Tôi phi lên đến tận mây cao, chỗ bình minh đang mới ôm hôn

Hãy đến gặp tôi, cả xứ sở của chiều tà trên bờ con sông màu đồng lấp loá
Nơi những cây sồi phản chiếu tán vàng rực rỡ của mùa thu
Từ trái tim mỗi ngày, còn thẩm thấu xuống đây màu đỏ máu
Từ cái miệng tái nhợt của hoàng hôn, còn vô tận lời ca
Tới đây đi, để rồi theo những giấc mơ sẫm màu
Lướt dưới những bóng cây với màu trăng trong mắt
Cùng hơi thở ấm nóng của nhịp đời vẫn còn chảy bên trong
Giữa những bài thơ đen rầm của ban đêm tang tóc!

Bài thơ trên nằm trong tập “Flora và Pomona” (Flora och Pomona) xuất bản năm 1906

Lời nhắn gửi của mùa đông Vinterhälsning

Vinterhälsning
Möter du nordanvinden, karl,
då möter du sång och yra.
Nordens Apoll bland tallarna far
med snöfjun på sin lyra.

Möter du nordanvinden, karl,
då möter du eld och låge.
Nordens Cupid bland granarna far
med lingonlindad båge.

Vädren blåsa utan ro
ur himmelens sexton grindar.
Vem kan du lita på och tro
av alla de vilda vindar?

Möter du nordanvinden, karl,
då möter du man och ära,
lustig och djärv, med blicken klar
som nyårsmånens skära.

Glad har jag hört hans muntra apell,
när han trummade till på rutan.
Ljöd hans signal genom springor och spjäll,
då gömde jag svårmodslutan.

Glad har jag följt så mången mil
hans knarrande, vita vägar,
druckit ur bergens frusande il
hans ymniga hälsobägar.

Kom, går du med för gammans skull?
Den kyliga kvällen lågar,
skyn är av glimmande strängar full
till lyror och till bågar.

Hövding, ryck an, jag är din man,
din man under sälla stjärnor.
Bistra kämpar följa ditt spann
och leende vintertärnor.

Kom och följ med för gammans skull,
envar som kan le och sjunga!
Skyarna gå som fanor av gull:
framåt, I stridbart unga!

Bạn ơi, nếu bạn bắt gặp được cơn gió Bắc
Bạn sẽ hiểu thế nào là lời ca của cơn say
Thần Apôlông phương Bắc bay trên ngọn thông cao
Cây đàn lia của thần trắng xoá màu bông tuyết

Bạn ơi, nếu bạn bắt gặp được cơn gió Bắc
Bạn sẽ hiểu thế nào là lửa và hơi nóng nhiệt thành
Thần Cupiđông phương Bắc bay trên ngọn tùng cao
Cánh cung của thần được bện bằng lá cây dâu núi

Gió ào ạt không thể nào ngừng
Thổi qua mười sáu cổng lưới sắt của bầu trời rộng lớn
Có thể nào bạn lại không trông mong và tin tưởng
Vào những gì cao xa từ ngọn gió hoang vu?

Bạn ơi, nếu bạn bắt gặp được cơn gió Bắc
Là bạn đã bắt gặp một nhân thân thật đáng tôn vinh
Táo bạo và tươi vui, có cái nhìn trong sáng
Như từ quầng sáng tinh khôi của trăng non lưỡi liềm

Thích thú, tôi được nghe tiếng hồn nhiên ấy gọi
Người hay gió đánh trống bập bùng trên cửa sổ nhà tôi
Tôi quên khuấy điệu buồn của chiếc hồ cầm chậm rãi
Nếu người, gió ấy ùa ngay vào tận lò sưởi reo vui!

Biết bao dặm đường, khi tôi rảo bước
Những con đường trắng xoá, tuyết giòn tan
Tôi được uống từ những làn gió núi
Những hớp khí mát trong làm sức khoẻ đầy tràn!

Bạn có đến cùng tôi hưởng niềm vui sướng ấy?
Những chiều ngỡ lạnh se, nhưng đầy tuyết chói chang
Những dây trời ánh lên, lan toả khắp không gian
Dây cung của thần và dây đàn lia kỳ diệu!

Vậy thì, thưa Thần, ta cứ tiến lên đi!
Tôi là đồ đệ của Người dưới vòm sao hạnh phúc
Những chiến binh ruổi theo xe Người, tâm phục
Những cô gái tươi cười – là con gái của Mùa Đông!

Mong sao mọi người đến để vui chơi!
Những ai thích cười, những ai thích hát
Kìa những đám mây bay như dát vàng, dát bạc
Bạn trẻ nhiệt tình ơi, tiến lên đi, đừng có ai lùi!

Người goá vợ Änklingen

Änklingen
Jag ville ha sagt dig det ömmaste ord
som låg mig på hjärtat och gnagde och malde,
du strävsinta dotter av den sträva jord;
kanhända det löst det bann som oss kvalde.

Jag ville allra helst att det skickat sig så,
att vi vandrat tillsammans, medan ingenting vart sagt,
och känt hur vi blevo till en ifrån två
genom tystnadens ljuva, förenande makt.

Jag ville ändå mer: att vart förfluget ord
kunnat mötas av ett leende som jublade tryggt.
Hur munvädren fara, vet ingen på jord,
men visst är hjärtats tal, fast förteget och skyggt.

Vi gingo på var sin sida av en ström
som allt bredare lopp mot det ändlösa havet.
Emellan oss fladdrade en tröttflugen dröm
om det stora vi dräpt, som vart i tysthet begravet.

Anh muốn được nói cùng em những lời dịu dàng hết mức
Những lời trong tim, anh đã dùng nhiều năm đến mức mỏi mòn
Em như cô gái khó gần của mảnh đất này khó tính
Em còn thức dậy chăng, khi mọi điều trừng phạt vẫn đi cùng?

Anh muốn có cách nào để chúng mình được phép
Đi bên cạnh nhau, dù chẳng nói năng chi
Và cảm thấy mình, tuy hai mà vẫn một
Bằng năng lực lặng câm, êm dịu, tự đồng quy!

Anh cũng muốn mỗi lời dù bay mất
Lại được gặp nụ cười, im lặng đợi chờ thôi!
Điều mấp máy trên môi, nào có ai hay biết
Chỉ là tiếng trái tim, nào có gì đâu bí ẩn, khác đời!

Chúng mình như hai linh hồn đi ở hai bờ một dòng sông
Nhưng dòng sông rộng dần rồi sẽ nhập vào biển cả
Giữa hai ta phiêu diêu một giấc mơ mệt mỏi không bay nổi
Trên sự nghiệp lớn lao của đời, mà ta phải huỷ đi và chôn trong nỗi lặng câm!

Bài thơ trên nằm trong tập “Tiếng kèn mùa thu” (Höstpsalm) xuất bản lần đầu năm 1927

Ở Lissabon, người ta nhảy múa I Lissabon där dansa de

I Lissabon där dansa de
I Lissabon där dansa de
på kungens röda slott,
bekrönta och bekransade,
vid hurrarop och skott.
Där spelar havet som basun
och fjärran violin
och varje kind är purpurbrun
som starkt oportovin.

Där sjunga rossignolerna
i dunkel muskottlund
för prinsarne och gemålerna
i nattens ömma blund.
Där fladdra kupidonerna
på vingar av kristall
kring grevarne och baronerna,
som sucka dagen all:

Du västanvind av Salvador
som blåser stark och vek,
väck upp en hind ur liljesnår,
att vi må driva lek.
Jag är en hjort i myrtendagg,
min krona är av gull
och bär en ros på varje tagg
för all min längtans skull.

Från brinkarna vid Munga strand
hörs mäktigt gny och brus.
Där dansa paren hand i hand
i Piilmans glada hus.
Var man som lyfter sina lår
till gamman i hans sal
är som en präktig matador
och prins av Portugal.

En trulsig sky går tung av bly
och spyr sin hagelsvärm,
men flickan lutar vårlig hy
mot Piilmans lena ärm.
Från buktig stång med höstligt bång
en väderhane gal,
men flickan ler i Piilmans fång
som maj i Munga dal.

En fruktröd gren står gungande
och slår mot vägg och glas,
i humlegången sjungande
går östans druckna bas.
Du höstvind, fyll din vida bälg
och blås som i trumpet!
Jag är en högkrönt bröllopsälg
bland rönn i Munga vret.

Nu spricker molnets grå madrass
vid åskans hårda knall
och månens skepp med gyllne stass
går fram i vinrött svall.
Låt oss gå ut och segla med
från höstens vissna hus
till städer under liljeträd
och slott i myrtensus.

Ở Lissabon, người ta nhảy múa
Trong toà lâu đài đỏ chói của Nhà vua
Người ta đội hoa, tết những tràng hoa
Nhảy trong tiếng reo hò và lửa reo phần phật!
Biển ở đây vào vai thổi kèn trompon
Hoặc vai chơi đàn violon đôi lúc
Biển mỗi ngày lúc đỏ tía. lúc nâu
Như thứ rượu vang Porto nồng đượm!

Còn có cả hoạ mi hót nữa
Trong bóng sẫm những rừng nho xạ hương
Hót cho các hoàng tử và công nương
Trong đêm tối dịu dàng yên ngủ!
Còn có cả các Thần Tình yêu bay lượn
Rung rinh những đôi cánh pha lê
Xung quanh các bá tước và nam tước
Chạy theo tình yêu, van vỉ suốt ngày!

Ôi ngọn gió tây từ Salvador
Cứ thổi mãi, vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ
Làm bật dậy nàng hươu đang ngủ trong hoa huệ
Khiến chúng tôi phì cười!
Tôi cũng giống như chú hươu phủ kín sương mai
rỏ xuống từ loài cây xanh vĩnh cửu
Quanh cổ đeo một chiếc vòng vàng
Mỗi chỏm nhô cao, được gài một đoá hoa hồng
Biểu tượng những điều đang mơ ước

Tiếng huyên náo rất to bỗng nổi dậy xung quanh
Trên bờ sông Munga, quê hương tôi đó
Những đôi lứa, tay trong tay, bước vào vòng nhảy
Tại ngôi nhà ông bạn Pilman, nơi hồ hởi đón chào!
Mỗi khách đàn ông nhảy, đều nhấc cao đùi
Để tỏ ý mình đang vô cùng thích thú
Được thấy mình ngang hàng một dũng sĩ đấu bò
Hay một ông hoàng Bồ Đào Nha oai vệ!

Một đám mây tròn và nặng như chì
Bỗng bay qua và bất thần nhả đạn
Nhưng cô gái trẻ, làn da màu xuân sáng
Đã kịp úp đôi má non tơ vào vai Pilman!
Trên cán sào cong theo chiều gió thổi
Chong chóng đo mức gió thu như cũng hát thành lời
Còn cô gái cười duyên trong vòng tay Pilman
Thì như đồng tháng Năm toả hương trong thung lũng

Một nhành cây đung đưa, mọng đỏ màu quả chín
Va vào kính cửa, vào tường
Ngọn gió đông từ thung lũng, thơm lừng hoa hu-bơ-lông
Vi vút thổi như bè đồng ca trần say đắm!
Ôi, trận gió mùa thu, gió thổi như cây đàn muôn điệu!
Hồn ta ngập tràn hơi thở lớn của ngươi
Ta ngạo nghễ mở hồn ra cho thời khắc của tình yêu
Giữa hàng lê thơm mùi lựu bên bờ Munga tươi mát

Tấm đệm xám của mây bị xé ra trong phút chốc
Khi vang lên tiếng sấm đầu mùa
Và chiếc tàu thuỷ trăng, vỏ bao phủ ánh vàng
Bơi xuống bơi lên, trong lớp triều màu vang trắng
Các bạn hãy ra đi và sánh bước cùng trăng
Hãy rời bỏ căn nhà cuối tiết thu đang khô héo
Để đến đây, những thành phố đầy bóng huệ trắng
Và những lâu đài ồn ã vui tươi trong cây xanh bốn mùa!

Bài thơ trên nằm trong tập “Flora và Pomona” (Flora och Pomona) xuất bản năm 1906

Quá khứ Det förgångna

Det förgångna
I gamla visor klingar det,
i gamla danser svingar det,
vinden i gamla skogar
går med dess lätta fjät.
Det skimrar från den första skyn
som seglar norrut ljus om hyn,
tidigt, när vildgässplogar
styra mot bergens bryn.

Det susar fram på tjäderns dun
i björkskog ung och knoppningsbrun,
vinkar där vårfruvädren
vagga i videfjun.
Det följer första svalans flykt
och reder sommarnästet tryggt
uppe i byn där fädren,
hennes och mina, byggt.

Och knappt har sommardagen bräckt,
i fältens första vakna fläkt,
fuktig av blomsterväta,
darrar dess andedräkt.
Det fladdrar kring min vildmarksgång
i doft och glitter dagen lång,
flyr som ett vallhjons fläta
in i de gröna prång.

Där hedens kullar stå i rök
från starbraksfestens heta kök,
far det förut och härmar
eko av lur och gök.
Det lyser under knotig tall
på hjortronmyr och smultronvall,
blänker från skört och ärmar,
glimmar i fors och fall.

Och här är byn vid flod och mo,
och här är svalans sommarbo.
Här vill min oro sova
i det förgångnas ro.
Här är var sten dess minnesvård,
i lunden kring min faders gård
bor det som andaktsdova,
heliga psalmackord.

I skyig natt, då allt är skumt,
då höet ångar mjukt och ljumt,
fattar det mod och talar
vad det förborgat stumt.
Det är min egen moders röst,
den första vännens vid mitt bröst,
snyftar och lugnt hugsvalar,
bannar och bjuder tröst.

Det säger: “Här är allting kvar,
här vänta dig i gott förvar
tusende vackra sånger;
var har du varit, var?
Vad söker du för hemligt spår,
när du till uppbrott redo står,
mörk som av sorg och ånger?
Säg, vart du går och går!”

Och högst vid späda älvars lopp,
där fjällen stå i sommardropp,
fjällen dem vintrar isa,
får det gestalt och kropp.
Du Siljansbrud i färgrik ståt
som står på Städjans stjälpta båt,
vifta mig än en visa,
innan vi skiljas åt!

Quá khứ âm vang trong các bài ca cũ
Và xoay tròn trong các điệu múa cổ truyền
Gió thổi qua các khu rừng già
Cũng chuyển mình bằng bước đi rất nhẹ
Quá khứ như một ánh mờ bên đám mây đầu tiên
Nhuộm màu sáng, bồng bềnh trôi lên phương Bắc
Ngay từ sớm, lúc những đàn ngỗng trời đang xếp hình chữ V
Mải miết nhắm triền núi xa bay tới

Quá khứ làm ta ngạc nhiên từ bộ lông gà màu thạch thảo
Đến những rừng dương non trổ lốm đốm những chồi nâu
Quá khứ đánh thức ta ngay cuối dịp lễ Đức Mẹ Đồng Trinh
Vụt thấy mơn mởn lông măng phủ kín chùm hoa lưỡi mèo trên bụi cói
Quá khứ ruổi theo cả chuyến bay của con chim én
Con chim đầu làm tổ bình yên đón đợi mùa hè
Tận thôn làng xa kia, nơi ông cha ta từng sống
Cùng cụ kị của bầy chim én tự lâu đời!

Ngày hè mới cùng hơi gió đầu tiên
Chẳng dễ đánh thức đâu những cánh đồng yên ngủ
Khi không khí chỉ run run hơi thở
Hãy còn đẫm ướt sương hoa!
Quá khứ vẫn bay khi cùng tôi dạo khắp bãi bờ hoang
Trong hương thơm và ánh lấp loé của một ngày dài dặc
Quá khứ lướt qua như đôi bím tóc dài
Của cô gái chăn cừu đang chạy vào khoảng khuất!

Trên những ngọn đồi của trảng đất mênh mông, nơi những ánh lửa bốc lên
Từ nhà thờ Thánh Jean, một ngày nóng bức
Quá khứ lại vượt qua tôi và bắt chước
Tiếng vọng của tù và, rồi tiếng líu ríu của chim cu
Nó loé sáng lên dưới cây thông gù
Dưới đầm lầy với những quả chín không tên
trên những ngọn đồi với dâu tây trĩu trịt
Nó loé sáng bất cứ đâu, dưới tà áo hay trên tay áo
Giữa dòng nước trào hay thác đổ từ cao

Và ở đây, một làng gần sông lại gần đầm lầy
Nơi chim én mùa hè làm tổ
Ở đây, nơi mọi lo toan của tôi đều nhẹ nhàng yên ngủ
Trong nỗi bình yên của quá khứ bao quanh
Ở đây, mỗi tảng đá đều là tượng đài của riêng mình!
Trong cánh rừng nhỏ bao quanh trang trại của cha tôi
Quá khứ quen ở yên như những cung bậc bài Thánh ca êm dịu
Trong nếp trầm tư mặc tưởng, lặng thầm mà thiêng liêng!

Dưới bóng mây rợp dần cho đến khi tối hẳn
Tới lúc đồng cỏ khô ngái lên mùi âm ấm lành hiền
Quá khứ lấy hết can đảm để thốt ra lời
Những điều vẫn thường lặng câm và giấu kín
Hoá ra lại là tiếng của mẹ tôi, vang ngay trong ngực tôi
Tiếng của người bạn đầu đời nay đã khuất
Người bạn nức nở và nguôi đi từng lúc
Lúc lại gào to, lúc an ủi vỗ về!…

Quá khứ bảo tôi: “Mọi thứ ở đây sẽ đều còn lại cả
Những thứ được gìn giữ lâu dài sẽ để dành anh
Hệt như nghìn bài hát đẹp!
Anh từng đã có gì?
Và đi tìm dấu hiệu gì bí mật?
Khi đang chuẩn bị sẵn sàng khởi hành
Sao cứ bị va đập bởi nỗi buồn, hay điều gì ân hận?
Anh định đi đâu không ngừng, anh thử nói xem?”

Và ở xa kia, nơi những dòng sông vẫn chảy dịu dàng
Núi dựng cao lên giữa những giọt nước báo mùa hè róc rách
Những ngọn núi bị mùa đông phủ đầy băng giá
Quá khứ tự nhiên hiện hình!
Ôi, có phải đấy là nơi núi đã cưới hồ Siljan, với trang sức dát vàng dát bạc
Ai đã bế bồng cả hồ đặt lên giữa dải núi Stadjan
giống con tàu lật ngược đáy lên trời?
Hãy cho tôi có được bài ca như một nỗi hàm ơn
Trước phút chúng ta giã biệt!

Bài thơ trên nằm trong tập “Flora và Pomona” (Flora och Pomona) xuất bản năm 1906

Tinh tuý của trái đất Jordanden

Jordanden
När lyktskenet spred genom ödslig stad
en majnatt sin fadda gurkmeja
och månen stack ut som i pingstparad
med sin smäckraste guldgaleja,
då strök en gnom mellan husen och kvad
sina luftiga priapeia.

»Du grändens mö, då människorna sova,
jag vill med dig i löndom mig förlova.
Då solen ser och människorna vaka,
skall ingen veta att du är min maka.
Jag är en vilsen röst från våta slätter,
där jordens andar gny i vilda nätter,
och jag är rusig av allt vin som ångar,
då jorden öppnar sina källargångar.

Töm jordens dryck! Den är av dagg som dryper
från månens fullhorn och i mörkret kryper
och samlar kraft ur lökar och ur rötter
på långa vägar under mänskans fötter,
tills den slår upp i markens alla skålar
sin brygd av luft och mull, av natt och strålar,
där tusen drogers heta filtron ångar.
Töm jordens dryck i dina ådrors gångar!»

Och månen gled upp genom skyarnas sund
sin glänsande vårgaleja,
och vinden tog till och lät en sekund
i gränden flöjlarna dreja,
men dog som en suck i en åldrig lund
med vild tulpan och akleja.

Bài thơ này nằm trong tập “Flora và Bellona” (Flora och Bellona) xuất bản năm 1918.

Trong ánh đèn đường mờ, một thành phố vắng tanh
Một đêm tháng năm toả mùi hương nghệ, mùi nhạt hoà vô vị
Mặt trăng như vào vũ hội hoá trang
Rong ruổi trên chiếc thuyền cổ xưa dát vàng đẹp nhất
Một chú lùn dị dạng đi lang thang giữa các ngôi nhà và hát
Lời bài ca nhẹ tênh, có chút hứng tình:

– “Em – cô gái của đường phố ơi, khi mọi người đàn ông đã ngủ
Anh muốn đến cùng em như người tình bí mật trong đời
Còn khi mặt trời lên, đám đàn ông thức dậy
Chẳng ai biết rằng em đã là vợ anh rồi
Anh như tiếng nói lạc loài, đến từ đồng cỏ ướt
Nơi tâm linh trái đất còn thở than mù mịt giữa đêm hoang
Anh là men say của thứ rượu vang đã bốc thành hơi nước
Khi đất mở ra những hành lang ngầm, ẩm thấp đã bao năm!

Hãy uống thứ nước của đất này đi!
Nó được cất lên từ sương tan chảy
Từ sừng nhọn của vầng trăng rồi thẩm thấu vào đêm
Tích dần sức sống từ bao nhiêu củ, bao nhiêu rễ
Không bàn chân người nào bén mảng đến đâu em!
Cho đến khi nó đổ đầy những cốc chôn trong đất
Thành thứ đồ uống tinh khiết của đất và khí trời,
của đêm và của ánh trăng
Nơi hàng ngàn thứ dược liệu chắt lọc qua khi bốc thành hơi nóng
Thứ nước tinh chất của đất này,
em hãy hoà vào huyết quản đi em!”

Bản dịch này thiếu khổ cuối của bài thơ.

Từ biệt Avskedet

Avskedet
Vi står du så plötsligt för mig,
du bleknade, vackra bild?
Vill du nicka mig tröst i den djupa höst
där jag känner mig sänkt och förspilld?
Den stunden nu från den stunden då

av ett människoliv är skild.
Jag hörde du var dålig.
Så kom jag till din bädd,
men studsade för din vita hamn,
där du låg som till avfärd klädd.
Du hälsade glatt: “Jo, jag lever än.
Stig fram och var inte rädd.”

Vi talade lugnt, då drog du ner
mitt huvud till din barm
och gav mig den enda kyss vi bytt,
en hastig och febervarm.
Jag såg på den grymma vår som stod
och log vid din fönsterkarm.

Och nästan vardagsmuntert
du bjöd mig ditt adjö
och sade du visste mer än väl,
hur snart du var dömd att dö.
Och allt som våren framskred,
ditt liv smalt bort som snö.

Vì sao em cứ bất ngờ đến đứng trước tôi
Ôi hình ảnh em xinh đẹp mà tái ngắt!
Em chỉ muốn bằng cái gật đầu đem cho tôi niềm an ủi
Sâu lắng trong mùa thu
Trong lúc tôi trốn lủi và lạc lối
Em một đời người đã bị tách xa
Từng sống động và đã từng tồn tại

Tôi đã từng biết em khi em đau ốm
Tôi đến bên đầu giường em
Tôi phải lùi lại giật mình trước sắc mặt em quá tái
Em đang nằm nhưng cách phục sức như sắp đi xa
Nhưng em vẫn mỉm cười chào tôi: “Em vẫn còn sống mà
Anh cứ lại gần đây, đừng sợ!”

Chúng tôi cùng lặng thinh
Và em áp đầu tôi lên ngực em
Rồi em hôn tôi cái hôn đầu duy nhất
Vội vã và nóng bỏng như cơn sốt!
Tôi nhìn sắc mùa xuân bỗng dưng hoá khắc nghiệt, dữ dằn
Đến mỉm cười bên cửa sổ!

Em vui vẻ, vẫn y như mọi ngày bình thường
Ân cần chào tôi khi giã biệt
Và em cũng nói thêm, rằng em biết rõ
Em chuẩn bị đón án tử hình, cũng chẳng còn lâu!
Thế rồi, lần lữa, mùa xuân cũng tới ngoài kia
Là phút cuộc đời em chảy tan ra như tuyết!

Bài thơ trên nằm trong tập “Tiếng kèn mùa thu” (Höstpsalm) xuất bản lần đầu năm 1927

Xem tiếp: Bằng Việt và các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài P2


0/5


(0 Reviews)

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags: