Châu Hải Đường: Những Chùm Thơ Hay Dịch Của Tác Giả Khác (P2)

Châu Hải Đường (1974) hoạt động nhiều trong biểu diễn thư pháp, nghiên cứu, dịch thuật Hán và Trung văn, sưu tập sách cổ. Anh có rất nhiều tác phẩm hay, đặc sắc, có giá trị nhân văn cao cả. Cùng nhau theo dõi tiếp phần 2 những chùm thơ hay dịch của tác giả khác dưới đây của anh để hiểu thêm về ngòi bút dẻo dai, khỏe khoắn và tinh thần yêu mê văn học của anh nhé!

Thính Tranh

Nắn phím so dây vẳng tiếng tranh,
Nghe dường ai oán biết bao tình.
Như hoà chim hót hay hoa thắm,
Tựa quyện xuân phong biết liễu xanh.
Đêm vắng nhà ai sầu bóng lẻ,
Lầu không nào chốn nhớ trăng thanh.
Khúc đâu mấy lớp sầu ly biệt,
Khắc khoải Giang Nam lại Lạc Thành.

Chiều Tối

Chiều tối,
Ngọc rắc sen tàn,
Giọt giọt mưa thu xối.
Mưa tạnh bến uyên ương,
Lạnh ngắt trăng ngân dõi.

Tựa cửa trên hồ sầu lẻ gối,
Tình vò võ,
Chịu sao thấu nỗi.
Cái vẹt lồng vàng trò chuyện mãi,
Nhớ tiếng tình lang nói.

Thiếu Niên Du

Sum xuê cầu Bá khói lồng cây;
Triều cũ cảnh còn đây.
Dương già liễu cổ,
Trải bao vin bẻ,
Eo Sở tuỵ tiều gầy.

Chiều hôm vắng lặng màu thu lão,
Tình biệt ngập hồ đầy.
Một khúc “Dương quan”,
Đoạn trường lời dứt,
Chèo quế độc mình ai.

Thiếu niên du

Trường An đường cổ ngựa rề rà,
Vòm liễu rộn ve ca.
Cánh chim chiều xế,
gió thu đồng nội,
mắt dõi bốn bề xa.

Mây trôi đi khuất không tung tích,
hẹn trước biết đâu là?
Bạn rượu tan thưa,
hứng chơi chán ngắt,
đã khác tuổi niên hoa.

Vũ Tâm Linh

Ve kêu thảm thiết;
Chiều trước trường đình;
Trận mưa vừa hết.
Ngoài thành rượu tiễn chẳng hoài;
Còn quyến luyến, thuyền đà giục riết.
Nắm tay nhìn mắt lệ rơi,
Nghẹn ngào, khôn nói xiết.
Bước chân đi ngàn dặm xa khơi;
Trời Sở rộng mây chiều mù mịt.

Đa tình tự cổ đau li biệt;
Sao chịu thấu tiết thu tàn gió rét!
Đêm nay tỉnh rượu nơi nào?
Bờ dương liễu gió mai trăng khuyết.
Biền biệt năm dài,
Thôi cảnh đẹp ngày vui giờ chẳng thiết.
Dẫu có muôn ngàn kẻ chung tình;
Dễ ngỏ cùng ai biết?

Thước kiều tiên – Điếu đài

Một cần phong nguyệt,
Một tơi mưa khói,
Nhà ở Điếu Đài bên lối.
Ngại lòng đem cá bán bên thành,
Huống đến chốn hồng trần ngập bụi?

Nước lên sửa mái,
Nước yên neo buộc,
Nước rút hát vang rời khỏi.
Người đời lầm sánh với Nghiêm Quang,
Ta thực lão chài không tên tuổi.

Biện Kinh kỷ sự kỳ 02

Xe ngựa phồn hoa chuyện khá thương,
Sư Sư già lão đến Hồ – Tương.
Áo vàng đàn phách nay đâu nhỉ,
Một khúc năm xưa động đế vương.

Đồng Lạc Thiên đăng Thê Linh tự tháp

Dắt nhau từng bước khó chi;
Chín từng mây dứng tựa kề lan can.
Lưng trời bỗng nói cười ran;
Đua nhau ngước mắt du nhân bao người.

Kim Lăng ngũ đề – Ô Y hạng

Bên cầu Chu Tước cỏ xen hoa;
Đầu ngõ Ô Y ánh nắng tà.
Cái én trước nhà Vương, Tạ cũ;
Đà bay lạc đến chốn dân gia.

Thanh bình điệu kỳ 1

Mặt ngỡ hoa cười, áo ngỡ mây;
Gió xuân hiên thoảng, đượm sương bay.
Chẳng nơi Quần Ngọc đầu non thấy;
Ắt gặp Dao Đài dưới nguyệt đây!

Thanh bình điệu kỳ 2

Một cành thắm đẹp, ngát thơm sương;
Đỉnh Giáp mây mưa luống đoạn trường.
Dám hỏi Hán cung ai sánh được;
Điểm trang Phi Yến khá nên thương.

Thanh bình điệu kỳ 3

Danh hoa, người đẹp thảy đều ưa;
Thường khiến vui nhìn xứng ý vua.
Gỡ giúp gió xuân muôn vạn hận;
Trầm Hương hiên bắc, tựa thờ ơ.

Đạo ý ký Thôi thị lang

Phù danh quyến luyến mà chi;
Dạ làm quan hãy vơi đi chớ màng.
Trăm năm sớm tối nhanh dường;
Chuyện xưa hết thảy đầy chừng lại vơi.
Tóc buồn xem thấy bạc rồi;
Mà sao mặt trẻ học hoài chưa nên.
Qua nơi Thiên Trúc có phen;
Bậc thầy xưa hãy nhớ lên theo cùng!

Hồ thượng ngoạ bệnh hỉ Lục Hồng Tiệm chí

Xưa đi tháng sương giá,
Nay đến buổi mù mây.
Gặp gỡ đương nằm bệnh,
Thưa lời lệ nhỏ đầy.
Rượu Đào gia mời gượng,
Thơ Tạ Khách ngâm vay.
Bỗng chốc say thành cuộc,
Cần chi hơn nữa đây.

Nhất Tiễn Mai

Chiếu lạnh hơi thu sen đỏ tàn;
Nhẹ cởi áo là;
Riêng xuống thuyền lan.
Bức gấm từng mây ai gửi sang?
Bữa nhạn bay về,
Gác nhỏ trăng tràn.

Hoa tự phiêu linh, nước tự xuôi,
Một giống tương tư.
Buồn tủi đôi nơi.
Cách chi tình ấy giúp nguôi ngoai?
Vừa khỏi mi này,
Đã nặng tim này.

Mộc lan hoa lệnh – Nghĩ cổ quyết tuyệt từ giản hữu

Đời người nếu chẳng nên thân mật,
Hà cớ thu sang buồn với quạt.
Bỗng dưng nhạt nhẽo tấm lòng ai,
Lại bảo tấm lòng ai dễ nhạt.

Ly Sơn canh vắng lời vừa hết,
Rốt cuộc sầu chi mưa tối rét.
Bởi đâu bội bạc áo vàng ai,
Chắp cánh liền cành xưa thắm thiết.

Nam hương tử – Hà xứ thối Ngô câu

Gươm nhuốm máu nào nơi?
Một mảnh thành hoang nước biếc trôi.
Kìa chốn năm nao từng chiến địa,
Sục sôi.
Cỏ ải sương thu nhuộm sắc rồi.

Bá nghiệp cũng phai phôi.
Phóng ngựa vung thương tóc trắng bay,
Danh hão tuổi xanh xin chớ đổi,
Phí hoài.
Anh hùng bao kẻ mộ hoang thôi.

Thủy Lạo

Mưa lụt đê sông vỡ,
Nhà thành xứ đầm hoang.
Cá rồng thường ẩn hiện,
Đồng ruộng thảy mênh mang.
Gà dẫn con đậu nóc,
Chó theo ai lên giường.
Nước đông nam các lộ,
Nghe nói càng tang thương

Hội Chân Thi

Trăng mờ soi lọt rèm song,
Chập chờn ánh đóm bầu không qua rồi.
Trời xa thấp thoáng vừa coi,
Muôn tàn cây thấp lần hồi xanh trong.
Ngâm nga sân trúc tiếng rồng,
Giọng oanh phơ phất ngô đồng giếng thu.
Áo là buông rủ sương mờ,
Leng keng vòng ngọc nhẹ hờ gió lay.
Theo vương mẫu, ngọn cờ bay,
Vấn vương ngọc nữ bóng mây la đà.
Canh khuya vắng lặng người qua,
Sớm ngày gặp gỡ nhạt nhoà mưa rơi.

Hài văn sắc ngọc chói ngời,
Rồng thêu ẩn hiện, sáng tươi hoa lồng.
Thoa cài cánh phượng linh lung,
Khăn là rờ rỡ, cầu vồng phủ che.
Dao Hoa, rằng tự ấy đi,
Sắp sang Bích Ngọc cung kia lạy chầu.
Lạc Thành nhân ghé qua mau,
Phía đông nhà Tống, ghé vào ngẫu nhiên.

Cợt đùa, thoáng cự trước tiên,
Mà nhu tình đã thuận êm trong lòng.
Cúi đầu cho cánh trâm rung,
Quay lưng khiến bụi ngọc tung gót hài.
Ngoái nhìn, vẻ tuyết hoa tươi,
Bước lên giường nệm, chung ngồi ôm chăn.
Uyên ương ghé cổ ái ân,
Đôi con phỉ thuý hợp hoan trong lồng.

Ngượng ngùng nhíu chặt mày cong,
Môi son ủ ấm, càng nồng càng say.
Hương lan sực nức đâu đây,
Nhuận tươi như ngọc, sẵn bày làn da.
Điệu đà tay ngại nhích qua,
Khép mình bao vẻ kiêu sa yêu kiều.
Mồ hôi giọt giọt châu gieo,
Vấn vương tóc rối mướt đều vẻ xanh.

Ngàn năm mừng gặp duyên lành,
Đã nghe khoảnh khắc năm canh hầu tàn.
Dùng dằng thời khắc có ngần,
Ý tình quyến luyến khôn phân cho cùng.
Ủ ê mặt, vẻ sầu đong,
Mấy lời thề nguyện tình chung tỏ bày.
Tặng vòng hội hợp mong ngày,
Dải đồng tâm, để người hay tâm đồng.
Phấn vương ngấn lệ gương trong,
Đèn tàn chấp chới bay vòng bướm đêm.
Ánh trăng vằng vặc còn xem,
Mà ra nắng sớm đã lên tỏ mờ.

Kẻ về sông Lạc, cánh cò,
Thổi tiêu người lại chơi bờ núi Tung.
Áo còn hương xạ đượm nồng,
Gối còn in dấu son hồng chưa phai.
Bên ao cỏ biếc phủ dài,
Lông chông ngán nỗi bãi ngoài phiêu diêu.
Vặn đàn ai oán hạc kêu,
Trông dòng Ngân Hán, ngóng theo cánh hồng.
Vượt qua bể rộng khó lòng,
Chín trùng trời thẳm dễ xông được nào.
Mây bay ai biết về đâu,
Một chàng Tiêu Sử trong lầu mà thôi.

Bài thể Tuyết Hương đình tạp vịnh kỳ 02

Lạc Dương thành quách hoá tro tàn,
Sớm Quắc chiều Ngu chỉ nhãn tiền.
Hỏi én mái nhà rằng có biết,
Sang năm xây tổ chốn nào yên?

Bài thể Tuyết Hương đình tạp vịnh kỳ 03

Núi biếc chiều hôm một mảnh sầu,
Xuôi đông nước chảy trở về đâu?
Làm sao giữ lấy Hi Xuân mãi,
Để được thường lên ngóng Tống Châu.

Bài thể Tuyết Hương đình tạp vịnh kỳ 13

Mây quang nắng ấm cỏ hoa tươi,
Gió dập mưa vùi hoá tả tơi.
Cửa nhặt vườn cung ai đến nữa,
Khóc xuân còn độc cái oanh thôi.

Vi Tống diễm đề từ

Tống sử nêu cao người học đạo,
Phong lưu thiên tử cũng đa tình.
An An Đường với Sư Sư Lý,
Đều được ơn vua đến cấm thành.

Khánh Toàn am đào hoa

Tìm được nguồn đào khá lánh Tần,
Mỗi lần hoa đỏ mỗi năm xuân.
Hoa bay chớ để xuôi dòng nước,
E có anh chài đến hỏi thăm.

Bộ xuất Hạ Môn hành kỳ 4 – Thổ bất đồng

Xóm thôn đã khác;
Hà Bắc đông hàn.
Băng tan trôi nổi;
Thuyền bè khó khăn.
Đất cứng khôn dùi;
Cây cỏ tuyết tràn.
Nước ngưng chẳng chảy;
Băng cứng khó đi.
Lòng thường oán than;
Buồn bực sầu bi.
Thực may biết bao!
Ngâm vịnh chí khí.

Giới Lộ Hành

Kìa đời thứ hai mươi Hán thất,
Kẻ trọng thần rõ thật tệ thay.
Đười ươi mặc áo mũ người,
Mưu toan thì lớn trí thời được bao.
Do dự mãi không sao dám quyết,
Để gian tà giữ bắt quân vương.
Mống mây mờ mịt thái dương,
Còn mình thì đã tai ương chịu đầu.
Đứa tặc thần nắm thâu quyền nước,
Giết chúa rồi bạo ngược thần kinh.
Đế vương cơ nghiệp tan tành,
Muôn đời tông miếu cũng thành tro bay.
Xa xôi vội sang tây dời đổi,
Dân oán than theo mỗi bước đi.
Lạc Dương thành quách xem kia,
Đớn đau Vi Tử nay thì khác đâu!

Khổ Hán Hành

Núi Thái Hàng tiến quân lên bắc;
Gian nan thay chất ngất núi cao.
Ruột Dê đường dốc cheo leo;
Gập ghềnh hỏi bánh xe nào chẳng tan.
Cây cối những điêu tàn xơ xác;
Ù ù nghe gió bắc buồn thay.
Gấu beo trước mặt ngồi đầy;
Bên đường hổ báo từng bầy gào kêu.
Nơi khe núi chẳng nhiều dân chúng;
Tuyết trắng riêng sa xuống bời bời.
Ngóng dài cổ, thở than hoài;
Biết bao nhiêu nỗi lo người đường xa.
Vì đâu khiến lòng ta uất ức;
Một niềm mong mỏi được về đông.
Sông sâu cầu lại tuyệt không;
Giữa đường luống những trong lòng ngẩn ngơ.
Mơ hồ lối đường xưa mất dấu;
Buổi chiều hôm trú náu không nơi.
Hành quân ngày đã lâu rồi;
Đói ăn, khát uống ngựa người như nhau.
Gồng gánh bước chân mau lấy củi;
Đẽo tuyết băng nấu thổi uống ăn.
Buồn thay một khúc Đông Sơn;
Khiến người dạ lại sầu hơn mấy lần.

Thiện tai hành kỳ 2

Thương thân phúc mỏng hơn người,
Phận mồ côi khổ tự thời ấu thơ.
“Tam thiên” vốn đã thưa tiếng mẹ,
“Quá đình” thêm vắng vẻ lời cha.
Khốn cùng gan ruột xót xa,
Hằng luôn nhớ đến cha già mà thương.
Chút chí khí tuy mang trong dạ,
Lúc bấy giờ nào đã lập nên.
Vận cùng người lại nghèo hèn,
Đớn đau ta thán lệ tràn như mưa.
Thảm thiết những mau thưa lệ chảy,
Đường sống nay trông cậy vào đâu?
Mong hoàng thiên giúp phép màu,
Lang Nha mé trái đổ nhào một khi.
Hết dạ tận trung tuy vẫn nguyện,
Mừng vui thiên tử vẹn quay về.
Hân hoan người cứ hát đi,
Trong lòng hoài bão biết thì cùng ai.
Muốn vương hoá khắp nơi dân chúng,
Có ai hay việc cũng khó lòng.
Khi nào mới thoả ước mong?
Thở than này cũng khó trông bề nào.
Lấy gì ta sánh trăng sao?
Có khi mưa hết, khi nào hết lo.

Ký Tài Nữ

Quý nhân văn tốt vốn nghe thường;
Đất khách càng thêm dạ vấn vương.
Chẳng có bạn thơ, sông núi ghét;
Được nên duyên đẹp, bút nghiên mừng.
Yêu dấu cảnh tình đà có phận;
Cổ kim thơ rượu há không dưng?
Thịnh triều ví soạn Thiên Nam Tập;
Tao đàn Thân, Đỗ dắt nàng cùng!

Nghĩ Dương Thái Chân giáo bạch anh vũ tụng Đa tâm kinh

Cành nam mộng dứt, Lũng mây chìm,
Rừng ngọc dừng chân đã chục năm.
Lông cánh thương ngươi rời chửa được,
Thân tâm nay phải ngộ sao nhằm?
Sớm hay lời đẹp thành ma chướng,
Khá tựa hoa đàm diễn Phạn âm.
Bờ đối năm sau ai bạn với?
Phổ Đà bên núi có linh cầm.

Tô Mạc Già

Đất lá vàng, trời mây thắm.
Sóng nhuốm màu thu, khói lạnh trùm xanh sẫm.
Núi ánh bóng tà, mây nước lẫn.
Cỏ biếc vô tình vượt bóng tà xa lắm.
Nỗi quê sầu, lòng khách thảm.
Tối tối riêng mong mộng đẹp mà mắt nhắm.
Trăng sáng lầu cao đừng tựa ngắm.
Rượu rót lòng buồn hoá lệ tương tư đẫm.

Khuê Tình

Khuê phòng vén áo bước ra;
Ung dung dời gót dạo qua hiên ngoài.
Phòng không tĩnh mịch nào ai;
Sân thềm xem đã mọc dài cỏ xanh.
Gió lùa cửa trống thênh thênh;
Trăm loài chim đã rời cành về nam.
Tình xuân kia há dễ quên;
Ưu sầu riêng bạn với em bây giờ.
Tình lang mãi ở nơi xa;
Cô đơn phận thiếp ai là người thân.
Hợp hoan khó lại một lần;
Chi lan đâu dễ úa tàn lại tươi.
Tình xưa người thảy bỏ rơi;
Lòng chàng há giống thói đời thế gian?
Nữ la nương bóng tùng quân;
Cánh bèo trôi nổi nhờ phần nước xanh.
Nâng khăn sửa áo gửi mình;
Lơ là chểnh mảng dám đành sớm hôm.
Nhìn nhau ví vẫn được ơn;
Tấm chung tình thiếp mãi còn tình chung

Đăng Cô Tô Đài

Xương Môn dương liễu mướt xuân phong;
Trước điện hoa tàn giọt lệ hồng
Tơ liễu năm năm bay ngập đất;
Hành nhân nào thấy Quán Oa cung.

Thu Dạ Bạc Cơ Xá

Nhĩ hà tháng tám gió đưa chèo,
Bãi cát dần nhô mép ngấn triều,
Trong bóng dâu gai bời đóm lượn,
Tựa hoa đăng thắp tối Nguyên tiêu.

Mộc Lan Hoa

Cảnh sắc trên thành oanh hót rối;
Khói sóng chân thành xuân vỗ gọi.
Cỏ thơm dương biếc thuở nào nguôi;
Mắt lệ lòng sầu đà đứt nhói.

Tâm tình dần đã nên già cỗi;
Thảng thốt soi gương nhan sắc đổi.
Thuở xưa nhiều bệnh rượu không ưa;
Nay rượu riêng hiềm sao ít ỏi!

Đào Nguyên ức cố nhân – Mộ xuân

Hoa Tư mộng dứt người đâu tá;
Chỉ thấy oanh kêu cây đỏ.
Mưa ngát tường vi mấy đóa;
Vắng lặng buồn sân ngõ.

Gió êm chẳng biết nài hoa ở,
Cánh rụng áo ai vô số.
Lầu ngóng xuân rời chốn cũ,
Đường rối bời hương cỏ.

Hoạ Tử Do “Mãnh Trì hoài cựu”

Đời người rốt cục giống chi vậy?
Giống cái nhàn bay dẫm tuyết rơi.
Trên tuyết ngẫu nhiên lưu dấu lại,
Nhàn bay nào có biết đông tây!
Thơ xưa, tường đổ còn đâu nữa,
Tháp mới, sư già mất bấy nay.
Lận đận ngày xưa em nhớ chứ?
Lừa đau, người mệt, dặm đường dài.

Hoán khê sa (Sơn hạ lan nha đoản tẩm khê)

Dưới núi nhành lan ngập nước nguồn,
Gốc tùng lối cát chẳng nhơ bùn,
Mưa chiều xao xác tiếng quyên dồn.

Ai bảo đời người khôn trẻ lại,
Anh xem nước chảy ngược tây luôn.
“Gà vàng” tóc trắng chớ ngâm buồn!

My Ổ

Trong áo, giáp dày đi chẳng sợ;
Đầy kho, vàng sẵn thoái dư dùng.
“Anh hùng” rốt cuộc ai so được?
Mỡ rốn thay đèn cháy sáng trưng.

Ngu mỹ nhân – Hữu Mỹ đường tặng Thuật Cổ

Đông nam hồ núi là hơn nhất,
Ngàn dặm nhìn không dứt.
Sứ quân mấy bận được về chơi?
Cứ thoả nghiêng bầu tuý luý lại bồi hồi.

Đèn vừa thắp sáng bờ sông cát,
Thuỷ Điệu nhà ai hát.
Đêm tàn gió lặng đã nên về,
Chỉ thấy một dòng trăng ánh tựa lưu ly.

Tần Mục, Công Mộ

Thác Tuyền ở thành đông;
Mộ ở trong thành chửa trăm bộ.
Mới biết xưa chưa có thành này;
Người Tần nhận đó Mục công mộ.
Xưa ông sống chẳng giết Mạnh Minh;
Há đâu khi chết nhẫn lòng chôn Tam Lương?
Chết theo, ba người hẳn tự ý;
Cũng như hai kẻ nước Tề theo Điền Hoành.
Người xưa cảm vì một bữa ăn;
Còn xin liều chết chẳng tiếc thân.
Người nay không được thấy việc đó;
Đem điều sở kiến nghi cổ nhân.
Người xưa trông chẳng thấy;
Người nay đau muôn phần.

Tân Sửu thập nhất nguyệt thập cửu nhật ký dữ Tử Do biệt ư Trịnh Châu tây môn chi ngoại mã thượng phú thi nhất thiên kí chi

Nâng nâng chẳng rượu mà say,
Trở yên, lòng cũng theo ai lại nhà.
Em về nhớ mẹ thương cha,
Anh nay biết lấy chi mà khoả khuây.
Lên cao ngóng khuất đèo mây,
Chỉ trông bóng mũ đen bay tỏ mờ.
Thương em rét, áo đơn sơ,
Ngựa gầy đạp ánh trăng tà lẻ loi.
Người đi, kẻ ở ca vui,
Tiểu đồng riêng lạ ngậm ngùi một anh.
Ở đời li biệt đã đành,
Chỉ lo năm tháng quá nhanh trôi vù,
Nhớ xưa đèn thắp chuyện trò,
Đêm nằm nghe tiếng gió mưa rã rền?
Lẽ này em hẳn không quên,
Giữ lòng thận trọng, quan quyền chớ ham.

Yến sơn đình – Bắc hành kiến hạnh hoa

Tỉa cắt lụa mềm,
Nhẹ xếp mấy tầng,
Son phấn nhạt thoa cánh đỏ.
Trang điểm thanh tân,
Sắc ngợp hương nồng,
Thẹn cả Nhị Châu cung nữ.
Dễ lắm điêu tàn,
Nào kể mấy vô tình mưa gió.
Sầu khổ,
Hỏi sân ngõ thê lương,
Mấy phen xuân úa?

Gửi nhờ biệt hận trùng trùng,
Đôi cái én nào đâu hiểu lời ta ngỏ.
Trời xa đất cách,
Muôn núi ngàn sông,
Nào biết cố cung đâu chứ?
Há chẳng đau buồn,
Chỉ trong mộng đôi khi về đó.
Không cứ,
Giờ mộng mị cũng không thấy nữa.

Ức Tần Nga

Cửa xanh rêu,
Hải đường hoa hết xuân tiêu điều.
Xuân tiêu điều.
Muôn trùng mây nước,
Một tấm lòng đau.

Khói chìm lầu ngọc chặt then sầu
Khi nào mới lại được bên nhau.
Được bên nhau.
Lệ hồng lau hết,
Trò chuyện tâm đầu.

Nhất Tùng Hoa

Lầu cao trông ngóng mấy cho cùng,
Chi sánh tấm tình chung.
Li sầu khiến rối muôn tơ liễu,
Mịt mù bay, hoa rụng đường đông.
Ngựa hý dần xa,
Dấu chàng nào thấy,
Chẳng dứt bụi bay hồng!

Đôi uyên ao nhỏ nước mênh mông;
Nam bắc mái chèo thông.
Vứt thang gác vẽ sau chiều tối,
Lại là khi, trăng rọi rèm song.
Ôm hận nghĩ suy,
Chẳng bằng đào hạnh,
Còn được gả đông phong.

Thiên Thu Tuế

Một vài tiếng cuốc,
Lại báo mùa hoa hết.
Tiếc xuân gượng chọn cành tàn ngắt.
Mưa rây gió thét gào,
Mơ vẫn còn quả chát.
Liễu Vĩnh Phong,
Vắng người trọn buổi hoa như tuyết.

Chớ gảy cung đàn hát,
Oán hận đàn ngỏ hết.
Trời chẳng lão,
Tình khôn tuyệt.
Lòng tựa lưới đôi tầng,
Trong có ngàn mối kết.
Hết đêm rồi,
Song đông chửa sáng đèn đà tắt.

Đăng Cô Tô đài hoài cổ

Đài hoang dạo bước góc thành tây;
Lối cũ thê lương, ngập cỏ cây.
Quạ tối, tường rêu kêu mấy dịp;
Hổ vàng, mồ nát mất bao ngày.
Thái Hương đường dứt, hươu nai dạo;
Hưởng Tiệp hiên tàn, gai góc dày.
Muốn viếng Ngũ Viên đâu đó tá?
Khói mờ trăng lặn dạ khôn khuây.

Đề Hồng Diệp

Nước chảy sao quá gấp;
Thâm cung trọn buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm;
Khá chuyển đến nhân gian.

Đề Đồng Kính Thượng Thi

Gương kia cất bước cùng người;
Gương về người vẫn ở nơi chốn nào.
Bóng Hằng Nga biết nơi đâu?
Chỉ riêng còn lại một mầu trăng suông.

Chúc quý vị độc giả có những giây phút tuyệt vời bên những vần thơ hay độc đáo của thi sĩ Châu Hải Đường này nhé. Những vần thơ mang màu sắc khác nhau, tô điểm thêm nền văn học Việt Nam. Bài viết chính là sự tiếp nối của bài Châu Hải Đường: Những Chùm Thơ Hay Dịch Của Tác Giả Khác, mời các bạn tham khảo thêm nhé. Thân ái!


5/5


(1 Review)

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags: