Nguyễn Trãi với tập thơ Quốc âm thi tập – Tập thơ Nôm bất hủ

Quốc âm thi tập là một trong những tập thơ ” bất hủ” của nhà thơ Nguyễn Trãi. Quốc âm thi tập là tập thơ nôm gồm 254 bài thơ, có giá trị vô cùng to lớn đối với nền thơ ca nước nhà. Tập thơ Quốc âm thi tập gợi mở nhiều phương hướng tiếp cận, nhiều vấn đề  giá trị về nội dung và tính nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hóa, về chính ý nghĩa tập thơ trong sự phát triển chung của ngôn ngữ dân tộc.

Để giúp quý độc giả có thể dễ dàng đọc và cảm nhận tập thơ Quốc Âm thi tập chúng tôi sẽ chia tập thơ này thành nhiều phần nhé! Đừng bỏ lỡ nha!

Nội Dung

Phần vô đề

Gồm 213 bài thơ

Thủ vĩ ngâm 首尾吟

首尾吟
谷城南犼蔑間
奴搩俧少琟吿
昆隊遁揚埃眷
堏馭檝少几绖
傉瞸狹回坤且琾
茹涓趣庶礙挼働
朝官拯沛隱拯沛
谷城南伨蔑間

Thủ vĩ ngâm
Góc thành Nam, lều một gian,
No nước uống, thiếu cơm ăn.
Con đòi trốn, dường ai quyến,
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn.
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn.
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian.

Bài thơ này có thể là làm trong lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Đông Quan theo bài tựa của Nguyễn Khắc Kiệm hay là trong lúc ông bị Lê Thái Tổ ruồng bỏ sau khi bị giam vì bị nghi có liên quan với án Trần Nguyên Hãn, tuy được tha và vẫn giữ chức quan, nhưng không được làm việc gì. Chúng tôi (nhóm Đào Duy Anh) đoán là làm trong trường hợp thứ hai, vì trong thơ đã có vẻ chán chường lắm, không thể là giọng thơ của một người thanh niên 30 tuổi còn đầy tráng khí (lúc bị giam lỏng ở Đông Quan) mới gặp khó khăn nhất thời. Vả chăng nếu là bị giam ở Đông Quan thì không thể có câu “Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải”.

Ngôn chí bài 1 言志

言志
商周件𪧘各諸堆,
舍另身閒課役耒。
檜俗茶常坡渃雪,
尋清中日羡茶梅。
𪀄呌花𦬑𣈜春凈,
香論碁殘席客催。
盃固蔑念庒女豸,
道濫昆免道濫碎。

Ngôn chí bài 1

Thương Chu bạn cũ các chưa đôi,
Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi.
Gội tục chè thường pha nước tuyết,
Tìm thanh trong vắt tịn trà mai.
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh,
Hương lụn cờ tàn tiệc khách thôi.
Bui có một niềm chăng nỡ trễ,
Ðạo làm con liễn đạo làm tôi.

Ngôn chí bài 2 言志

言志
老少諸𢧚節丈夫,
免羅倣樣道先儒。
茶梅店月曵𫀅俸,
片冊𣈜春𡎢枕勾。
儛功名刁苦辱,
𥪝曵悅固風流。
𠇍𠊚𣈜怒詩杜,
蘿梧桐課末秋。

Ngôn chí bài 2
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu,
Miễn là phỏng dáng đạo tiên nho.
Chà mai đêm nguyệt dậy xem bóng,
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.
Dưới công danh đeo khổ nhục,
Trong dại dột có phong lưu.
Mấy người ngày nọ thi đỗ,
Lá ngô đồng thuở mạt thu.

Ngôn chí bài 3 言志

言志
庵竹軒梅𣈜𣎃戈,
是非閙典𡎝煙霞。
𩛷咹油固𦼞㙁,
襖默奈之錦羅。
渃養朱清池賞月,
坦𦓿午隘𪽏秧花。
工欺興動皮店雪,
吟特勾神𠱆𠱆歌。

Ngôn chí bài 3
Am trúc hiên mai ngày tháng qua,
Thị phi nào đến cõi yên hà.
Bữa ăn dù có dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm là.
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt,
Ðất cày ngõ ải luống ương hoa.
Trong khi hứng động vừa đêm tuyết,
Ngâm được câu thần dắng dắng ca.

Ngôn chí bài 4

Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm,
Giơ tay áo đến tùng lâm.
Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động,
Đường ít người đi cỏ kíp xâm.
Thơ đới tục hiềm câu đới tục,
Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm.
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy,
Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm.

Ngôn chí bài 5

Làm người chẳng có đức cùng tài,
So nghĩ đều thì kém hết hai.
Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn,
Thanh nhàn án sách hãy đeo đai.
Dễ hay ruột bể sâu cạn,
Khôn biết lòng người vắn dài.
Sự thế dữ lành ai hỏi đến,
Bảo rằng ông đã điếc hai tai.

Ngôn chí bài 6 (Trường ốc)

Trường ốc ba thu uổng mỗ danh,
Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh.
Cuốc cùn ước xáo vườn chư tử,
Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh.
Án sách cây đèn hai bạn cũ,
Song mai hiên trúc một lòng thanh.
Lại mừng nguyên khí vừa thịnh,
Còn cậy vì hay một chữ đinh.

Ngôn chí bài 7 (Cơm trời áo cha)

Ðã mấy thu nay để lệ nhà,
Duyên nào đeo đẳng khó chăng tha.
Một thân lẩn quất đường khoa mục,
Hai chữ mơ màng việc quốc gia.
Tài liệt lạt nhiều nên kém bạn,
Người mòn mỏi hết phúc còn ta.
Quân thân chưa báo lòng canh cánh,
Tình phụ cơm trời áo cha.

Ngôn chí bài 8 (Túi thơ bầu rượu)

Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
Quẩy dụng đầm hâm mấy dặm đường.
Ðài Tử Lăng cao, thu mát,
Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang.
Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
Hàu chất so le, khóm cuối làng.
Ngâm sách thằng chài trong thuở ấy,
Tiếng trào dậy khắp Thương Lang.

Ngôn chí bài 9 (Sang cùng khó)

Sang cùng khó bởi chưng trời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi.
Tả lòng thanh, vị núc nác,
Vun đất ải, luống mồng tơi.
Liêm cần tiết cả, tua hằng nắm,
Trung hiếu niềm xưa, mựa nỡ dời.
Con cháu chớ hiềm song viết ngặt,
Thi thư thực ấy báu ngàn đời.

Ngôn chí bài 10

Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bẻ cây.
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Áo quang mấu ấu cá nên bầy.
Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này.

Ngôn chí bài 11 (Cỏ xanh)

Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân,
Trúc rợp hiên mai quét tục trần.
Nghiệp cũ thi thư hằng một chức,
Duyên xưa hương hoả tượng ba thân.
Nhan Uyên nước chứa bầu còn nguyệt,
Ðỗ Phủ thơ nên bút có thần.
Nợ quân thân chưa báo được,
Hài hoa còn bợn dặm thanh vân.

Ngôn chí bài 12 (Than nhàn)

Thân nhàn dầu tới dầu lui,
Thua được bằng cờ ai kẻ đôi.
Bạn cũ thiếu, ham đèn lẫn sách,
Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai.
Cày chống tuyết ngâm đòi cảnh,
Cuốc chơi xuân khắp mọi đồi.
Con cháu mựa hiềm song viết tiện,
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi.

Ngôn chí bài 13 (Tà dương)

Tà dương bóng ngả thuở hồng lâu,
Thế giới đông nên ngọc một bầu.
Tuyết sóc treo cây điểm phấn,
Quỹ đông dãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc, quyên phẳng,
Nhạn triện hư không, gió thâu.
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối ước về đâu.

Chữ Nôm:
邪陽俸我課紅樓
世界冬戼玉蔑瓢
雪朔撩夛点粉
晷東豸月印鉤
煵沉水国涓滂
雁篆虛空陿偷
船怸群掉拯肯杜
俼班最約駆兜

Ngôn chí bài 14 (Dạy láng giềng)

Vừa sáu mươi dư tám chín thu,
Lưng gầy da xí tướng lù khù.
Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào Hứa,
Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu.
Bát cơm xoa nhờ ơn xã tắc,
Gian lều cỏ đội đức Đường Ngu.
Tơ hào chẳng có đền ơn chúa,
Dạy láng giềng mấy sĩ nhu.

Ngôn chí bài 15 (Am cao thấp)

Am cao am thấp đặt đòi tầng,
Khấp khểnh ba làn trở lại bằng.
Quét trúc bước qua lòng suối,
Thưởng mai về đạp bóng trăng.
Phần du lẽo đẽo thương quê cũ,
Tùng cúc bù trì nhớ việc hằng.
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy,
Thiên kim ước đổi được hay chăng.

Ngôn chí bài 16 (Ẩn cả)

Tham nhàn lánh đến giang san,
Ngày vắng xem chơi sách một an.
Am rợp chim kêu hoa xảy động,
Song im hương tạn khói sơ tàn.
Mưa thu rưới ba đường cúc,
Gió xuân đưa một luống lan.
Ẩn cả lọ chi thành thị nữa,
Nào đâu là chẳng đất nhà quan.

Ngôn chí bài 17

Đột xung biếng tới áng can qua,
Thú lều ta dưỡng tính ta.
Sớm tối hằng lề phiến sách cũ,
Hôm dao đủ bữa bát cơm xoa.
Đêm thanh nguyệt hiện ngoài hiên trúc,
Ngày vắng chim kêu cuối khóm hoa.
Quân tử hãy lăm bền chí cũ,
Chẳng âu ngặt chẳng âu già.

Ngôn chí bài 18 (Một thuyền câu)

Thương Lang mấy khảm một thuyền câu,
Cảnh lạ đêm thanh hứng bởi đâu.
Nguyệt mọc đầu non kình dõi tiếng,
Khói tan mặt nước thận không lầu.
Giang sơn dạm được đồ hai bức,
Thế giới đông nên ngọc một bầu.
Ta ắt lòng mừng Văn Chính nữa,
Vui xưa chẳng quản đeo âu.

Ngôn chí bài 19 (Ngày nhàn)

Nẻo có ăn thì có lo,
Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho.
Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch,
Ðêm vắng tìm mai bạn Lão Bô.
Ðã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
Cho hay đường lợi cực quanh co.
Tuồng ni cốc được bề hơn thiệt,
Chưa dễ bằng ai đắn với đo.

Ngôn chí bài 20 (Dấu người đi)

Dấu người đi là đá mòn,
Ðường hoa vướng vất trúc luồn.
Cửa song dãi xâm hơi nắng,
Tiếng vượn kêu vang cách non.
Cây rợp tán che am mát,
Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.
Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn,
Ủ ấp cùng ta làm cái con.

Chữ Nôm:
鉘勜岃羅廏檘
唐花詠勿竹論
翓窗豸侵唏鋢
曢猿肹叫隔筃
夛葉傘曕庵沫
湖清月現俸覻
踋聮鶴吝戼排伴
幽邑共些濫丐昆

Ngôn chí bài 21 (Bốn mươi)

Chẳng hay rắp rắp đã bốn mươi,
Ngày tháng bằng thoi một phút cười.
Thế sự người no ổi tiết bảy,
Nhân tình ai ủ cúc mồng mười.
Thuyền chèo đêm nguyệt sông biếc,
Cây đến ngày xuân lá tươi.
Phú quý chẳng tham thanh tựa nước,
Lòng nào vạy mỗ hơi hơi.

Mạn thuật bài 01

Ngày tháng kê khoai những sản hằng,
Tường đào ngõ mận ngại thung thăng.
Ðạo ta cậy bởi chân non khoẻ,
Lòng thế tin chi mặt nước bằng.
Trì cỏ được câu ngâm gió,
Hiên mai cầm chén hỏi trăng.
Thề cùng viên hạc trong hai ấy,
Thấy có ai han chớ đãi đằng.

Mạn thuật bài 02 (Tiêu sái)

Ngẫm ngợi sơn lâm lẫn thị triều,
Nào đâu là chẳng đất Ðường Nghiêu.
Người tham phú quý người hằng trọng,
Ta được thanh nhàn ta xá yêu.
Nô bộc ắt còn hai rặng quýt,
Thất gia chẳng quản một con lều.
Miễn là tiêu sái qua ngày tháng,
Lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu.

Mạn thuật bài 03 (Mống tự nhiên)

Có mống tự nhiên lại có cây,
Sự làm vướng vất ắt còn chầy.
Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa,
Ðộng tĩnh nào ai chẳng bởi thầy.
Hỉ nộ cương như tuy đã có,
Nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây.
Hay văn hay võ thì dùng đến,
Chẳng đã khôn nghe khéo đầy.

Mạn thuật bài 04

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,
Trong thế giới phút chim bay.
Non cao non thấp mây thuộc,
Cây cứng cây mềm gió hay.
Nước mấy trăm thu còn vậy,
Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay.
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay.

Mạn thuật bài 05 (Được thua)

Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn,
Cửa quyền hiểm hóc ngại thon chân.
Say minh nguyệt trà ba chén,
Ðịch thanh phong lều một gian.
Ngỏ cửa nho chờ khách đến,
Trồng cây đức để con ăn.
Ðược thua phú quý dầu thiên mệnh,
Chen mọc làm chi cho nhọc nhằn.

Sách Văn đàn bảo giám chép bài này của Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới tiêu đề Nhân tình thế thái bài 23:

Đạo đức hiền hay mến khó khăn
Quyền môn chốn ấy biếng chen chân
hứng phong nguyệt chè ba chén
Thú thanh nhàn lều một ngăn
Quét cửa nho chờ khách đến
Trồng cây đức để con ăn
Được thua phú quý dầu thiên mệnh
Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn

Mạn thuật bài 06 (Thú ông này)

Ðường thông thuở chống một cày,
Sự thế bao nhiêu vẫn đã khuây.
Bả cái trúc hòng phân suối,
Quét con am để chứa mây.
Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá,
Rừng tiếc chim về ngại phát cây.
Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi,
Ông này đã có thú ông này.

Mạn thuật bài 07 (Áng thuỷ vân)

Ở chớ nề hay học cổ nhân,
Lánh mình cho khỏi áng phong trần.
Chim kêu cá lội yên đòi phận,
Câu quạnh cày nhàn dưỡng mỗ thân.
Nhà ngặt túi không tiền mẫu tử,
Tật nhiều thuốc biết vị quân thần.
Ấy còn lẵng đẵng làm chi nữa,
Sá tiếc mình chơi áng thuỷ vân.

Mạn thuật bài 08 (Ơn quân thân)

Chân chăng lọt đến cửa vương hầu,
Ấy tuổi nào thế đã bạc đầu.
Liệu cửa nhà xem bằng quán khách,
Ðem công danh đổi lấy cần câu.
Thân đà hết luỵ thân nên nhẹ,
Bụt ấy là lòng bụt há cầu.
Bui một quân thân ơn cực nặng,
Tơ hào chưa báo hãy còn âu.

Mạn thuật bài 09 (Am quạnh)

Am quạnh thiêu hương đọc ngũ kinh,
Linh đài sạch một dường thanh.
Nhà còn thi lễ âu chi ngặt,
Ðời phạp văn chương uổng mỗ danh.
Ðầu tiếc đội mòn khăn Ðỗ Phủ,
Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh.
Chi là của tiêu ngày tháng,
Thơ một hai thiên rượu một bình.

Mạn thuật bài 10 (Hư ảo)

Tưởng thân hư ảo nổi bằng bèo,
Chí cũ công danh vuỗn rã keo.
Viện có hoa tàn chăng quét đất,
Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo.
Lòng người tựa mặt ai ai khác,
Sự thế bằng cờ bước bước nghèo.
Không hết kể chi tay trí thuật,
Ðể đòi khi ngã thắt khi eo.

Mạn thuật bài 11 (Quê cũ)

Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân,
Lãng thưởng chưa lìa lưới trần.
Ở thế những hiềm qua mỗ thế,
Có thân thì sá cốc chưng thân.
Vườn còn thông trúc đáng năm mẫu,
Câu ước công danh đổi một cần.
Miệt bả hài gai khăn cốc,
Xuềnh xoàng làm mỗ đứa thôn nhân.

Mạn thuật bài 12 (Trường văn)

Trường văn nằm ngả mấy thu dư,
Uổng tốn công nhàn biện lỗ ngư.
Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ,
Có lòng bằng trúc mỗ nên hư.
Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ,
Quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư.
Chỉn sá lui mà thủ phận,
Lại tu thân khác mặc thi thư.

Mạn thuật bài 13 (Nhà ta)

Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao.
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào.

Mạn thuật bài 14 (Am tuyết)

Án tuyết mười năm uổng độc thư,
Kiểu còn lọt lọt chữ Tương Như.
Nước non kể khắp quê hà hữu,
Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử Hư.
Con mắt hoạ xanh đầu dễ bạc,
Lưng khôn uốn lộc nên từ.
Ai ai đều đã bằng câu hết,
Nước chẳng còn có Sử Ngư.

Trần tình bài 1

Từ ngày gặp hội phong vân,
Bổ báo chưa hề đặng mỗ phân.
Gánh khôn đương quyền tướng phủ,
Lui ngõ được đất nho thần.
Ước bề trả ơn minh chúa,
Hết khoẻ phù đạo thánh nhân.
Quốc phú binh cường chăng có chước,
Bằng tôi nào thửa ích chưng dân.

Trần tình bài 2

Vàng bạc nhà chẳng có mấy phần,
Lành thay cơm cám được no ăn.
Lọn thuở đông hằng nhờ bếp,
Suốt mùa hè kẻo đắp chăn.
Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc,
Cuốc cày là thú những chon chăn.
Cậy trời còn có bây nhiêu nữa,
Chi tuổi chăng hiềm kẻ khó khăn.

Trần tình bài 3

Vầu làm chèo, trúc làm nhà,
Ðược thú vui, ngày tháng qua.
Cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ,
Áo người vô nghĩa mặc chăng thà.
Khỏi triều quan mới hay ơn chúa,
Sinh được con thời cảm đức cha.
Mừng thuở thái bình yêu hết tấc,
No lòng tự tại quản chi là.

Trần tình bài 4

Lồng lộng trời tư chút đâu,
Nào ai chẳng đội ở trên đầu.
Song cửa ngọc vân yên cách,
Dãi lòng đan nhật nguyệt thâu.
Chim đến cây cao chim nghỉ đỗ,
Quạt hay thu lạnh quạt sơ thâu.
Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế,
Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

Trần tình bài 5

Con cờ quẩy rượu đầy bầu
Đòi nước non chơi quản dầu
Đạp áng mây ôm bó củi
Ngồi bên suối gác cần câu
Giang sơn mặt thấy nên quen thuộc
Danh lợi lòng nào ước chác cầu
Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi
Rêu phơi phới thấy tiên đâu.

Chữ Nôm:
昆棋快蔛苔瓢
隊搩筃制管油
踏盎詸掩布檜
憹邊衦閣芹鉤
江山炦獕戼涓熟
名利峼儍約卓求
王質情期些厭坙
繤配配獕仙兜

Trần tình bài 6

Chèo lan nhàn bát thuở tà dương,
Một phút qua một lạ dường.
Ngàn nọ so miền Thái Thạch,
Làng kia mở cảnh Tiêu Tương.
Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ,
Vầng nguyệt lên thuở nước cường.
Mua được thú mầu trong thuở ấy,
Thế gian hay một khách văn chương.

Trần tình bài 7

Chén chăng lọ chuốc rượu La Phù,
Khách đến ngâm chơi miễn có câu.
Lòng một tấc đón còn nhớ chúa,
Tóc hại phần bạc bởi thương thu.
Khó bền mới phải người quân tử,
Mạnh gắng thì nên kẻ trượng phu.
Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khoẻ,
Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu.

Trần tình bài 8

Chớ cậy sang mà ép nề,
Lời chăng phải vuỗn khuôn nghe.
Co que thay bấy ruột ốc,
Khúc khuỷu làm chi trái hoè.
Hai chữ công danh chăng dám cóc,
Một trường ân oán những hăm he.
Làm người mựa cậy khi quyền thế,
Có thuở bàn cờ tốt đuổi xe.

Trần tình bài 9

Bảy tám mươi bằng một bát tay,
Người sinh ở thế mấy nhàn thay.
Lan đình tiệc họp mây ảo,
Kim cốc vườn hoang dế cày.
Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện,
Đông hè trãi đã xưa hay.
Ta còn lãng đãng làm chi nữa,
Tượng có trời bày đặt vay.

Trên đây chúng tôi đã chia sẻ đến quý độc giả những bài thơ hay và vang danh nhất của nhà thơ Nguyễn Trãi. Qua đó đã giúp các bạn phần nào hiểu được phong cách sáng tác của nhà thơ. Đồng hành cùng chúng tôi để theo dõi những bài viết ấn tượng nhất nhé! Thân Ái! 

Xem tiếp: Nguyễn Trãi với tập thơ Quốc âm thi tập – Tập thơ nôm bất hủ P1

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags:
DMCA.com Protection Status | Sitemap | Mail - Đơn Vị Tài Trợ: Nội Thất Hoà Phát