Soạn bài: Lão Hạc Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8

Để giúp các em làm Soạn bài: Lão Hạc Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 hay nhất – Hệ thống toàn bộ các bài Soạn bài: Lão Hạc Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, hay nhất và bám sát theo nội dung sách giáo khoa.

Để giúp các em làm Soạn bài: Lão Hạc Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 hay nhất Hệ thống toàn bộ các bài Soạn bài: Lão Hạc Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, hay nhất và bám sát theo nội dung sách giáo khoa.

Bố cục

Chia làm ba phần:

Phần 1 ( từ đầu … nó thế này ông giáo ạ): Sự day dứt, dằn vặt của lão Hạc sau khi bán con Vàng.

Phần 2 ( tiếp … một thêm đáng buồn) Lão Hạc gửi gắm tiền bạc, trông nom nhà cửa.

Phần 3 (còn lại) Cái chết của lão Hạc.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 48 Ngữ Văn 8 tập 1):

Tình cảm của lão Hạc dành cho cậu Vàng:

    Trân trọng gọi con chó là cậu Vàng

    Làm bạn với cậu Vàng để khuây khỏa

    Đối xử với cậu Vàng như đối xử với con cháu: cho ăn trong bát, gắp thức ăn cho, chửi yêu, cưng nựng…

Tình thế khốn cùng buộc lão Hạc phải bán cậu Vàng:

    Sau trận ốm cộng với cơn bão đi qua tình cảnh của lão Hạc “đói deo đói dắt”

Diễn biến tâm lý sau khi bán cậu Vàng

    Cố làm ra vui vẻ, nhưng “đôi mắt ầng ậng nước”, “mếu máo như con nít”

    Lão Hạc đau đớn, dằn vặt vì quá thương cậu Vàng và cảm thấy tội lỗi, tệ bạc khi lừa một con chó.

= > Lão Hạc là người hiền lành, sống tình nghĩa nên lão cảm thấy đau xót, dằn vặt lương tâm khi bán cậu Vàng.

Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Nguyên nhân cái chết của lão Hạc:

    Do tình cảnh túng quẫn: đói deo dắt, nghèo khổ, bần cùng

    Lão không thể ăn phạm vào số tiền dành cho con

    Lão chọn cái chết để giải thoát số kiếp,và bảo toàn số tiền cho con

Lão Hạc thu xếp nhờ “ông giáo”sau đó tìm đến cái chết chứng tỏ:

    Lão là người có lòng tự trọng, biết lo xa

    Lão không chấp nhận việc làm bất lương, không nhận sự giúp đỡ

    Lão coi trọng nhân phẩm, danh dự hơn cả mạng sống

Câu 3 ( trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Khi nghe chuyện lão Hạc muốn bán chó thì dửng dưng, thờ ơ

Khi lão Hạc khóc vì bán chó thì cảm thông, chia sẻ “muốn ôm choàng lấy lão mà khóc”, muốn giúp đỡ

Khi nghe Binh Tư kể lão Hạc xin bả chó: nghi ngờ, thoáng buồn

Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc thì kính trọng nhân cách, tấm lòng của con người bình dị

= > “Ông giáo” trở thành người bạn tâm giao của lão Hạc, ông hiểu sâu sắc và đồng cảm, kính trọng lão Hạc

Câu 4 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Khi nghe Binh Tư nói, nhân vật “tôi” bất ngờ, hoài nghi, cảm thấy thất vọng

    Nhân vật “tôi” nhanh chóng cảm thấy chán ngán: người trung thực, nhân nghĩa như lão Hạc lại “nối gót” Binh Tư.

    Buồn vì cái đói nghèo có thể làm tha hóa nhân cách con người ( cái đói nghèo có thể biến lão Hạc trở nên tha hóa như Binh Tư)

Sau đó chứng kiến cái chết dữ dội của lão Hạc, ông giáo lại thấy buồn ở khía cạnh khác.

    Hóa giải được hoài nghi trong lòng nhưng lại thấy buồn

    Xót xa vì người sống tử tế và nhân hậu, trung thực như lão Hạc phải chọn cái chết đau đớn, dữ dội

Câu 5 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Cái hay, hấp dẫn ở truyện nằm ở việc miêu tả tâm lý nhân vật và cách kể chuyện.

    Diễn biến tâm lý của lão Hạc xung quanh chuyện bán chó

    Sự thay đổi thái độ, tình cảm của ông giáo từ dửng dưng đến cảm thông, chia sẻ, kính trọng

Cả hai nhân vật đều có vẻ đẹp của nhân cách, phẩm giá dù họ có nỗi khổ riêng

    Lão Hạc giàu tình thương, lòng tự trọng, trung thực

    Ông giáo tử tế, biết chia sẻ, đồng cảm.

Nhân vật “tôi” kể, dẫn dắt câu chuyện nhưng lại nhập vai vào các nhân vật khác nên tác phẩm có nhiều giọng điệu chứ không đơn điệu.

Câu 6 ( trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Đây là phát hiện sâu sắc mang tính triết lý:

    Phải thực sự am hiểu, trân trọng con người, khám phá những nét tốt đẹp của con người.

    Con người chỉ bị những đau khổ che lấp đi bản tính tốt đẹp, cần phải “cố tìm hiểu”

    Cần phải đặt mình vào hoàn cảnh và vị trí của người khác để hiểu, cảm thông và chấp nhận họ

Là cách ứng xử nhân hậu, tình nghĩa xuất phát từ tinh thần yêu thương con người.

    Tránh những mâu thuẫn bằng sự thấu hiểu và vị tha.

Câu 7 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Cuộc sống của người nông dân trước cách mạng tháng Tám:

    Bị bóc lột, bần cùng hóa, đói nghèo, thiếu thốn

    Họ sống khổ cực trong làng quê

    Cuộc sống eo hẹp dần tới kiệt quệ, bế tắc

Họ có những phẩm chất đáng quý

    Trong sạch, lương thiện , giàu tình yêu thương

    Họ sẵn sàng chết, phản kháng lại để giữ phẩm giá cao quý của mình

    Trong người nông dân luôn tiềm tàng sức mạnh của tình cảm, có thể phản kháng lại những bất công.

Các bài văn mẫu hay về “Lão Hạc“:

5/5 (1 Review)
Bài Liên Quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*