Tập thơ: Mùa xuân màu xanh (1974) – Anh Thơ (Tiếp)

Tập thơ: Mùa xuân màu xanh (1974) – Anh Thơ

Anh đã khóc

Em biết anh bờ-lu chưa cài kịp cúc
Cấp cứu từng trái tim đau.
Từ năm tang Bác đưa vào.
Anh chưa được khóc.

Đêm nay vào viếng sắc
Được khóc hết phần mình.
Nhưng em biết rằng không khóc được thay anh.
Vì nỗi đau lớn quá.

Suốt đêm nay anh phải nghe từng nhịp thở.
Từng giọt thuốc truyền vào cho mạch máu hồi sinh
Từng nhịp đập mơ hồ trên ngực bệnh nhân.
Nghe cả một nỗi đau da diết.
Đang thắt trái tim anh nghĩ về quê hương tha thiết.

Bác mất rồi!
Miền Nam ơi!
Em biết anh muốn khóc
Cho mẹ già bạc tóc
Vẫn xông lên gạt súng quân thù.
Cho chị anh chung thuỷ đợi chờ.
Mười mấy năm nuôi con đánh giặc.
Cho cháu anh (lũ cháu yêu của Bác).
Đặt bẫy, gài mìn diệt Mỹ, ác ôn.
Cho bạn bè, đồng chí thân thương.
Chiến đấu gian lao mong ngày đón Bác.
Ôi: em biết anh muốn khóc
Cho quê hương, tất cả Miền Nam!

Nhưng anh chưa được khóc.
Như người lính cùng đồng đội xông vào cản giặc
Nỗi đau anh phải biến thành sức mạnh, phải dồn cả tâm tư
Giành lấy nhịp tim hơi thở từng giờ.

Khi liều thuốc hồi sinh.
Với sự thương yêu săn sóc tận tình
Khiến những bệnh nhân tỉnh cơn đau ngất.
Quên nỗi buồn thương của riêng mình.
Anh đã khóc!…

Bệnh viện Việt-Xô
Ngày 4,5,6-9-1969

Anh lái xe và người thi sĩ

Anh lái xe đưa tôi đi
Đến những đầm lầy xưa, nay thành vựa lúa.
Đến những lều cỏ
Nay thành nhà bốn mái, cửa sổ có đăng-ten.
Nhà thơ đưa tôi đi
Quá khứ xa xưa đào tận đáy bùn đen
Những nhà hát, đâu trường và tượng quý.
Anh lái xe đưa tôi đi
Dấu thành cung vua xưa diễm lệ
Nay là nhà của hoàng tử công nông
Nhà thơ đưa tôi đi
Những bờ biển biếc mênh mông.
Những ruộng bậc thang đưa nhỏ lên đỉnh núi.
Anh lái xe đưa tôi đi
Những nhà máy ngất trời tuôn khói.
Những thành phố từ đỉnh rừng xa. sáng rực hoa đèn.
Ôi những cuộc đi trên đất nước bạn đang lên.
Anh lái xe, nhà thơ, ai cũng là thi sĩ.

Hai bạn đường ơi
Tôi muốn nhìn sâu vào mặt các anh suy nghĩ
Những niềm vui đổi mới bây giờ
Với quá khứ đau thương từ thuở xa xưa
Bởi giặc Thồ, vua quan và phát xít
Khiến người dân An-ba-ni đã do nhiều máu và nước mắt.

Nước Việt-nam chúng tôi dang chiến đầu lâu đài
Để các bạn hôm nay lấp hố bom xây những lâu đài
Và đề một ngày mai
Đón các bạn, cũng có nhà thơ và những lái xe thi sĩ.

An-ba-ni, 13-5-1970

Bé yêu ơi, hãy đợi…

Sao chiều nay mẹ nhớ con day dứt
Chắc giờ này, con ở trường ra.
Túi cà chua, xách sau cặp vở.
Bước nhanh nhanh, chào bạn về nhà.

Bế bé Loan đang ra đón chị
(Chỉ có bé Loan, mẹ ở nước ngoài)
Con thay mẹ lo làm nội trợ.
Cất sách học lên bàn, lấy gạo, rửa khoai.

Nồi canh chua, con có nấu cho ngon
Xoong mì luộc, để ba chan nước cá
Miệng tính toán, mắt buồn thương nhớ
– Ước mẹ về, ăn cơm nấu của con:

Ôi ước mơ bé nhỏ sao thương?
Bé của mẹ! Bé Việt Nam gian khổ
Còn thằng Mỹ, các con còn vất vả.
Mười tuổi đầu, không dám ham chơi.
Mẹ thương con, nước mắt muốn rơi.

Trên bán đảo Cri-mê chiều nay pháo hoa vừa rực sáng
Báo hiệu mùa hè – một mùa vui tắm nắng.
Dưới biển, trên rừng ánh điện chói chang.
Mẹ đi trong đêm hội tưng bừng
Chiếc tàu trắng như thiên nga, cánh vẫy.
Nếu có con, mẹ vui biết mấy!

Nhìn bé Liên Xô nơ nắng áo hồng
Con của mẹ cũng xinh như thế
Con của mẹ cũng như bao bạn bè
Trên đất Việt Nam chiến đấu anh hùng.
Đuổi Mỹ cút rồi, ta cũng ăn pháo bông

Mặt biển đông, tàu cũng đi như thiên nga cánh vẫy
Mẹ sẽ vui cùng các bà mẹ Việt Nam lộng lẫy
Dưới ánh hào quang sáng biển, đẹp rừng.
Bé yêu ơi, hãy đợi buổi vui chung.


Bán đảo Cri-mê những ngày tháng 6-1970

Bên gốc mai vàng

Cự li bẩy bước đi đều
Sương khuya buông thẫm sóng triền miên man
Xa xa trên đỉnh đèo Ngang
Dòng xe sáng rực xuyên ngang mây đèo.

Cự li bây bước đi đều
Súng tê vai lạnh, mưa vèo rừng thưa
Nhớ đêm Hà Nội giao thừa
Hoa đào, hoa cúc, hoa mơ, quát hồng.

Hương dâu thoang hoảng đầu rừng.
Ô! hoa mai nở sống trong đêm tuần.
Gốc mai ai đó dừng chân
Súng nghiêng trong áng hương xuân, đợi chờ!

Chợt bừng pháo sáng lửng lơ
Biển khơi động sống vút bờ núi cao
Rời chân súng chĩa trời sao
Cự li bảy bước đi đều… tuần tra.

Đèo Ngang, xuân 1967

Bữa liên hoan tỉnh uỷ khu giải phóng

Căn hầm điện sáng vừa tan họp
Pháo hoa sông Hiếu đỏ ngang trời
Liên hoan tỉnh ủy mời tân khách
Súng mũ đầy sân chen tiếng cười…

Cà rốt điểm tươi, giò hộp rán
Cá thu kho lại có tiêu, hành
Xu hào xào với ba-tê nhỏ
Nộm mít non thơm xanh lá chanh.

Bữa tiệc còn nghèo, trên đổ nát
Tiếng cười, tỉnh ủy giàu lạc quan
Đôi bờ sông Hiếu rồi đây sẽ
Thành phố soi gương, rực nắng vàng.

Có rạp chiếu phim, trường đại học
Có nhà thư viện, có công viên
Tàu từ Cửa Việt vào thương cảng
Xưởng máy đăng hàng vượt cát lên.

Miền núi hồ tiêu Của nức chợ
Chia từng khu vực dễ chăn nuôi
Có nhà nghỉ mát hơn Tam Đảo…
Viện Bảo tàng lên chói mặt trời.

Khách nghe nâng chén cùng vui chúc
Nhìn lại đầu ai bạc nửa rồi
Đất nước một vùng bom, sắt thép
Tiếng cười Tỉnh uỷ sáng tương lai.


22-2-1973

Căn phòng ta

Buổi sáng dậy vén rèm cửa sổ
Đón nắng thu vàng thếp căn phòng.
Tưới lẵng phong lan lá mượt ánh hồng
Nghe đài nổi âm thanh cuộc sống.

Hôm nay sẽ mấy lần báo động?
Và căn phòng yêu dấu của ta đây.
Có còn không? Cùng dòng với hôm nay?

Ôi cần phòng đã sẵn sàng đội ngũ.
Trong những căn phòng đứng chung đường phố.
Hàng cây xanh ríu rít tiếng chim mừng.
Văng đạn, bom thù, cửa kính rung.

Ta yêu phòng ta như yêu Hà Nội
Như yêu cuộc sống riêng còn chật chội.
Lò sưởi đôi khi làm bếp, nấu ăn thêm
Sách xếp ngăn tường, trạn cất ga men.
Mấy thước lụa xưa, dành che giường ngủ.
Bàn viết có ảnh con nho nhỏ
Cười trong trai ngọc Cô Tô
Mảnh ngói Loa Thành, chặn những trang thơ.
Con ốc Sầm Sơn còn vang sóng bể
Bát cắm hoa xanh men triều đại Lý.
Mấy chiếc ghế Lạng Sơn mang bóng tre ngàn.
Ta chắt chiu kỷ niệm mười năm.

Căn phòng ta thênh thang hai cửa sổ
Mây trắng thường qua, sông Hồng thả gió.
Mỗi tối mùa hè, tắt điện đêm trăng khuya.
Thêm nỗi nhớ về bãi biển trong kia

Căn phòng ta bốn bức tường ôm ấp
Nghe tiếng ta cười, con từ reo hát.
Dẫu mùa đông gió rít đầy đường.
Sum họp vợ chồng, quanh một mâm cơm

Ôi căn phòng ta
sáng nay vẫn như mọi sáng

Trời xanh trong hoa mướp leo vàng.
Còn vẳng đâu đây tiếng trẻ đùa vang.
Còn bóng dáng bạn bè đã đi hỏa tuyến

Bỗng tiếng còi lên
xao xuyến…
Căn phòng ta khép cuộc đời riêng.
Cửa chớp lặng yên
Những cửa chớp trầm ngâm phẫn nộ.

Dẫu bom dạn thù có rơi ngay đường phố
Ta thấy rõ căn phòng ta
Cũng như căn phòng của tất cả mọi nhà.
Dù có đổ, cũng không bao giờ đổ
Như Hà Nội mùa thu hoa cúc nở
Vẫn in vàng tươi sáng giữa tim ta.

Hà Nội, thu 1967

Cây đuối nước

Gầu guồng cùng với máy bơm lại lên trận tuyến
Dòng nước cuối cùng chạy khỏi cánh đồng ta.
Từ Đảng ủy, đảng viên, xã viên, chủ nhiệm
Dồn sức người đấu thủy, chả thay ca.

Đất đã phơi lớp phù sa đỏ mịn
(Đất phù sa từ sông Đuống, sông Hồng)
Thương ruộng bạc màu, cỏ lên còn nghẹn
Biết mấy mồ hôi cho bãi xôi nên đồng?

Xót cây lúa, nước ngang trời, còn dúi dạm
Mơn mởn lá xanh, bát ngát sóng xanh.
Bão giật, gió dồn, nước ùa ngập thẳm.
Nhưng đâu chịu thua trời, ta lại đấu tranh.

Ôi đám mạ từ Tân-yên gửi tặng.
Bàn tay nào đã nhổ lúa hy sinh?
Ta cấy màu xanh, đuổi làn nước trắng.
Cấy cả niềm thương kết nghĩa vẹn tình.

Tiền phương ơi các anh hẳn đợi
Quê ta rày lụt, bão đã lùi xa.
Cây đuổi nước, ngày vui như mở hội.
Màu xanh này, em trai tới chiến trường xa.

Chợ vùng mới giải phóng

Cây trơ ngọn cụt nửa chừng.
Gốc đa hay góc mít? từng bóng xanh.

Mái nghiêng kèo sắt chênh vênh.
Cỏ len bom đạn phủ xanh chiến trường.

Chợ vào, chợ những người thương.
Áo xanh bộ đội, áo hường dân quân.

Bé em nhảy nóc xe tăng
Đùa vui cho bõ ở hầm khát khao.

Chợ nghèo hái má làm rau.
Cau khô hàng mẹ miệng trầu vẫn tươi.

Nén hương thơm nức dòng đời
Bố mừng giải phóng nhớ ai nén trầm.

Chốt về du kích chen chân
Thanh thanh nón lá tay cầm thiết tha.

Chợ ta họp giữa quê ta.
Trùm lên đồ nải nắng xoà âm thanh.

Chợ Của, xuân 1973

Chợ vùng mới giải phóng

Cây trơ ngọn cụt nửa chừng.
Gốc đa hay góc mít? từng bóng xanh.

Mái nghiêng kèo sắt chênh vênh.
Cỏ len bom đạn phủ xanh chiến trường.

Chợ vào, chợ những người thương.
Áo xanh bộ đội, áo hường dân quân.

Bé em nhảy nóc xe tăng
Đùa vui cho bõ ở hầm khát khao.

Chợ nghèo hái má làm rau.
Cau khô hàng mẹ miệng trầu vẫn tươi.

Nén hương thơm nức dòng đời
Bố mừng giải phóng nhớ ai nén trầm.

Chốt về du kích chen chân
Thanh thanh nón lá tay cầm thiết tha.

Chợ ta họp giữa quê ta.
Trùm lên đồ nải nắng xoà âm thanh.


Chợ Của, xuân 1973

Chuyện vợ chồng người sĩ quan tên lửa quê Uy-nổ

Cưới nhau đêm mười bảy
Mươi tám giặc gieo bom
Từ phòng hạnh phúc dậy
Chồng vợ hai tuyến đường

Chồng chạy cứu vác người
Vợ băng, tiêm, lau, rửa.
Giữa hố bom xém lửa.
Hai nơi mà một nơi

Ngày phép còn chưa hết
Hoa cưới phòng đang tươi
Nhưng xóm làng hủy diệt
Phải ra trận mới nguôi.

Bắt tay vợ, lên đường
Anh đi tìm giết giặc.
Trời Uy-nổ đêm đêm…
Tên lửa qua sáng rực.

Pháo cưới anh và em.
Tiếp theo lên lửa nổ
Tiếp tên thần Uy-nổ
Thành ốc xưa còn đây!

Cày cấy chẳng ngừng tay
Giữa hố bom giặc phá.
B.52 cháy đỏ!
Niềm vui bừng đêm đêm.


Đông Anh, cuối đông 72

Con đã về nơi Bác ở ngày xưa

I

Con đã về nơi Bác ở ngày xưa
Đường biên giới rậm dài đá dốc.
Nơi Bác hôn nắm đất giữa nương ngô.
Ôi! năm đất về với tay “Người” dựng nước.

Giữa rừng núi còn dấu chân giặc cướp.
Lán ẩn cheo leo, rải rác hốc thông già.
Cỏ bấu ngâm đầy cho dòng suối trôi qua
Suối rửa miếng ăn người dân đói khổ.

Bác về, mời cụ “Các Mác” về, trên núi đá
Trong cả lòng hang, Bác tạc tượng người.
Như tạc niềm tin cho con cháu đời đời
Từ thẳm rừng sâu ngời lên chủ nghĩa.

Noọng gái nào năm xưa gạt lệ?
Địu chăn về, lo hang gió mông mênh.
Noọng đâu biết: trời tháng tám từ dây xoá mù.
Mới hé
Và cũng tự nơi đây ươm sắc nắng Ba Đình.

Dòng suối âm u hồng dậy ánh bình minh.
Mang tình cảm Lê-nin tràn đất nước.
Dòng suối từ ba mươi năm trước.
Từng đau gót chân thương, qua, lại đôi bờ.

Đàn cá về đớp hạt cơm ngô.
Bơi hớp cả lời thơ cảm khái.
Ta mượn gương xanh lẵng lại
Buổi chiều nào râu Bác trắng ưu tư?
Để đến hôm nay thuỷ điện ngợp bờ.
Khắp nẻo rừng cao, trào ra ánh sáng.

II

Bàn đá chông chênh còn ngồi sử Đảng
Chim rừng ơi, ngươi có lắng nghe?
Khắp bốn phương bí mật những ai về?
Theo tay Bác viết thêm trang sử.
Những làn rêu không phủ chân quá khứ
Mà trải nhung vàng chào đón bước tương lai.
Ghé đá còn đây hơi ấm Bác ngồi
Với những anh hùng ngàn xưa cứu nước.

Cây ngót rừng còn nhớ tay người phát
Ngọn cằn rơi, cho mầm nẩy mỡ màng
Rặng trúc thanh cao vươn thẳng lên ngàn.
Cây đứng nương cây mặc cơn bão táp.

Ô cải xoong cho suối thêm tươi mát
Sắn xanh nương trùm cỏ dại, lau hoang.
Lá ổi mỗi ngày thay cánh chè thơm.
May mạ xum xuê che mù mắt giặc.

Những hàng cây đầu tiên cho “Tổ quốc”
Từ nắm đất Bác mang về chăm bón gốc yêu thương.

III

Cháu gái nào mang bóng dáng quê hương?
Vương Thị Hú, leo đèo, lội suối.
Gói cơm ngô, ống canh gừng nóng hổi:
“Ông Ké à, đừng bỏ bữa rau măng!”

Những bữa nghèo san sẻ, kính dâng.
Nào đâu biết mình nuôi cách mạng!

Người gái Nùng quen khâu giầy, tìm bột báng.
Được Bác đặt tên mang sắc sen vàng.
Hòm thư cao lăn đá níu, víu dây sang
Ghét đế quốc nên không chờn con rắn

Nông Thị Bảy vượt ngục, bỏ nhà đi từ buổi sáng
Làm cháu già Thu, được học mỗi ngày.
Mang nặng thù chồng, lòng chị có hay
Được Bác luyện rên nối dòng Trưng nữ.

Và khi Hoàng Thị Nga bụng từng đỉnh rú
Leo giữa mây mù nhịn đói, tìm dân.
Chị đâu biết giữa muôn ngàn, gian khổ
Như cô gái Nga xưa
Nhớ Bác vững tinh thần.

Rồi những cô Hoa, cô Đào, từ Pắc-Pó
Giắt súng võ trang giải phóng từng miền
Đến em lái xúc quặng tìm vàng trên mỏ.
Cô chủ tịch vùng cao, chị chánh án toà trên.

Tất cả người gái Tày, Nùng đảm đang hậu tuyến
Còn nhớ ngày xưa không biết làm người.
Góc núi đầu nguồn cuộc đời sâu kiến.
Từ cụ Ké về, như hoa nở rừng tươi.

IV

Ngoài tiền phương, anh Giải phóng chưa nguôi
Mối thù bản năm nào trên địu mẹ
Vượt biên giới, tránh Tây càn, khóc ré
Không áo quần sưởi lá, ủ than tro.
Đầu lở, thân lem ra đón Bác Hồ.

Ai biết tấm lòng “Người” đau xót
Bàn tay già rửa từng mụn trốc
Đun từng thuyền nước nóng tắm yêu thương.

Giữa những ngày đói rét, tha phương.
Rau má nhai khô, đau hàng răng yếu.
Dân thương ông Ké, làm riêng bát cháo.
Bát cháo trứng thơm, lành. Bác nuốt sao trôi?
Tay nâng lên, nhường bà cụ tám mươi.
Công cuộc sống gần trăm tuất khổ
Ôi những giọt nước mắt già, nóng nhỏ.
Cho cháu con căm uất đuổi xâm lăng.

Bác Hồ ơi, đã mấy mươi năm.
Từ nắm đất Bác đem về dựng nước.
Rừng Pắc Pó uy nghiêm đài Các Mác
Suối Lê-nin trong vắt, xanh nguồn.
Con đã về đây, đi giữa lúa vàng thơm
Lòng nhớ Bác như nương đồng ơn nước.
Ôi, nếu được trở về ngày tháng trước.
Bác lại về như Bụt hiện giữa rừng cây.
Mùa cốm lên hương, vang đất nước nhịp chày.

Pắc Pó, tháng 9 năm 1969
Hà Nội, tháng 9 năm 1969

Cô gái Hải Châu

Biển tràn bãi cát giữa cơn trào
Sông Yên quanh làng xanh phi lao
Cô gái Hải Châu hay cánh gió
Tìm cô, ai hay tìm phương nao.

Phải đây ô nề đang đọng muối?
Hay dọc lòng mương tràn thúc lợi?
Giữa đồng lúa chín gió Lào khô?
Trên đỉnh Bộc Sơn vừa hái củi?

Con thuyền ai tải đạn qua sông?
Ghếch mũi nằm trong sú, nước dòng.
Nhớ buổi bập bênh tránh từng cột nước
Lửa lòe trước mặt, bom sau lưng.

Anh thương binh nào, máu ra đã ngất?
Trên vai trốn cô cũng nhanh chân
Anh có hay giọt nước mắt thương thầm?
Khi cô nghiêng mình che cho anh đạn giặc…

Ụ Pháo còn đây sạm đen bờ đất
Câu chuyện đang vui giữa đạn nổ giòn:
“Anh hẹn em về sau ngày thống nhất!”
Bỗng tiếng bom thù cắt dứt tiếng yêu thương.

Và khi máy bay Mỹ rơi trắng những cánh dù
Máng nổi mương chìm trắng thêm ruộng muối
Khoai tiếp lúa mùa, kê vàng gió ruổi
Cô thay người đi tiếp chiến trường xa.

Cô gái Hải Châu ơi, tôi biết
Ngày mai, ngày kia…. chuyện cô chưa hết
Khi nên dù còn lớn ánh sao hôm
Khi sông Yên còn cuộn sóng căm hờn.

Hải Châu, 1965

Dưới bóng ô-liu

Tôi đã nghe…
Tiếng vó ngựa của Scăng-đéc-béc còn vang từng mây ở Cơ-rui-da.

Vang trên thung lũng Ti-ra-na.
Vang trên ngọn rừng ô-liu lá bạc.
Vang trên những đồi nho bát ngát.
Tiếng vó ngựa đi đạp xác quân thù
Từ năm thế kỷ xa xưa
Trong lòng bạn tự hào biết mấy!

Người bạn An-ba-ni ơi!
Tôi đến đây
Gặp rất nhiều đài liệt sĩ
Gặp những bà mẹ gầy thương nhớ chồng con.
Gặp những em bé gái giống con tôi, xách giỏ đi chợ

Sỏi đá hãy còn
Đồi trọc chưa phủ xanh cây
Nhưng điện đã về tận rừng sâu hẻo lánh.
Ruộng không còn bờ
Nước đang leo núi.
Nhà năm tầng, bảy tầng
Mang cửa kính mặt trời sáng chói.

Cuộc sống bạn đang lên
Xe ủi đất bật tung núi đá
Rừng ô-liu. tiếp rừng nho xanh lá.
Những nhà máy tự động, tối tân.
Những đồng lầy xưa, nay ngập lúa mì vàng
Người phụ nữ đã rứt khăn chàng mạng
Đeo súng theo cách mạng.
Lưới búa chim giơ cao
Tự hào
Lao động như nam giới.

Những cụ già đi giày mới
Vui vì cỏ nước tự do
Đất nước tuy còn cảnh giác bóng thù
Cánh Đại bàng bay vút.
Việt Nam chúng tôi ở rất xa.
Nhung rất gần bạn hôm nay
Trong chiến hào từng trong nước trái vả.
Bạn gửi sang từng cốc ngọt đầy.

Cám ơn tình bạn thân yêu
Dưới bóng ô-liu
Tôi đã nghe mối tình đoàn kết
Từ Scăng-đéc-béc
Chúng ta tay nắm chặt tay
Là quân thù phải chết!

An-ba-ni, những ngày tháng 5-1970

Đường về quê anh

Qua cầu, em tiến về quê
Một vùng cỏ lác, bốn bề thép gai.
Xe lên, xe xuống dặm dài
Đèo cao, dốc thẳm, suối khơi gập ghềnh.
Nắng chang chang, nắng mông mênh
Không vườn, không bóng một cành cây tươi
Nhà ai, vườn tược của ai
Chỉ đầy sắt thép cháy thui ngút ngàn
Hố bom rồi lại hố bom
Nóng trưa đổ loé mái tôn, dưới cờ.
Trên đường xe lại, xe đưa
Quân về rầm rập, người thưa bộ hành
Gà non vài chú theo chân
Dân về lác đác, khăn rằn vắt vai.

Quê anh hai bảy năm trời
Biết bao máu lửa cho người bâng khuâng!

Qua giới tuyến ngày 21-2-1973

Em lại ra đi

Em lại ra đi, dẫu phòng ta vừa ấm tiếng cười.
Mâm cơm nóng lần đầu về sum họp
Con thơ bé ngồi trong lòng ta, hạnh phúc
Em lại ra đi, hành lý đợi góc phòng.

Hỡi anh yêu từng thức những đêm ròng
Bên giường bệnh, chăm em từng giấc ngủ
Sức khoẻ vừa hồi, em lại lên đường lo nhiệm vụ
Tan buổi trực về, anh chăm lấy con thơ.

Bởi đời ta phải thực hiện ước mơ
Nhà Hạnh phúc mở cửa hồng trên đất mẹ.
Ta được vui sao khi nửa mình còn đau xé.
Em lại ra đi dẫu miền Bắc tiếng bom ngừng

Thương biết bao nhiêu cả tấm tình chồng.
Trong lặng lẽ đảm đang thay vợ!

Đường em đi sông núi dài thương nhớ!

Hà-tĩnh, tháng 3-1968

Ghi anh lính nguỵ đánh ở Nam Lào

Xe bọc thép và phi cơ lên thẳng
Hùng hổ đi muốn húc núi rừng…
Hùng hổ đi không húc nổi làn sương trắng
Như lưới trời vây kín nguỵ quân.

Ôi giải sương kết tinh từ hơi nước
Của triệu thông rừng từ đỉnh Na-cai
Của sóng Sê-băng biên bay nghi ngút
Đường chín mịt mùng không ánh dương soi…

Xe bọc thép đi… trái tim không bọc thép
Hỡi anh lính cộng-hoà đã bỏ quê-hương
Chiến đấu vì ai; đường anh đi mù mịt
Có những gì ? sau bức màn sương.

Xe anh đi… đem đau thương chết chóc
Từ những bản Lào tới những người dân.
Nhưng cũng đến cho anh (cảnh chia lìa tang tóc)
Sau bức sương mù là lưới lửa quân dân.

Cái chết đang chờ anh… từ dặm đường thứ nhất
Cái chết đến rồi: sấm sét Trường sơn…
Hỡi anh lính cộng hoà, máu xương và nước mắt
Anh chết cho ai? trong bão lửa căm hờn…

Chiến dịch “Đường 9”.

Gửi em nơi tiền tuyến

Chị trở lại căn phòng xưa yêu dấu.
Quét bụi ngập đầy sàn, kê lại chiếc bàn con.
Cửa sổ hôm nay trời mới xanh hơn
Mảng tường vỡ, vẫn đầy mướp vàng nắng nở
Vần thơ đầu tiên gửi em nơi tuyến lửa.

Hà Nội hôm nay chớm lạnh đầu mùa
Những hoa cúc, Tây Hồ, đem vào màu trắng mát
Những nải chuối tiêu chín lừng trứng cuốc
Những lồ cam từ khu Bốn, vàng tươi.
Những trái hồng mọng đỏ niềm vui.

Mâm cơm nhà ai? Có mùi dưa chua nấu cá?
Có rau riếp, hành hoa, răm, mùi thái nhỏ.
Ôi! Mâm cơm nóng sốt gia-đình!
Em từng ước mơ giữa bước trường chinh.

Ta chưa được vui sum họp
Vì giặc Mỹ vẫn còn trên nửa nước
Chị nhớ em như nhớ  Miền Nam
(Như bao nhiêu tấm lòng yêu thương).

Những đồng lúa hậu phương vừa chín gấp
Những nhà máy, công trường tới tấp.
Những đàn cá chờ bơi lên hồ mới, đỉnh rừng
Những con đường đang vươn thẳng không ngừng

Chiếc ba-lô vẫn màu xanh lá biếc
Cửa phòng ta tạm khép
Chị lại ra di
Để cùng em chiến đấu “Ngày về”.

Thu 1968
Kỷ niệm ngày Mỹ ngừng bắn phá miền Bắc VIệt Nam.

Hai nhăm năm

Gần năm mươi năm, tôi vẫn tuổi hai nhăm.
Bởi chỉ mới hai nhăm năm là tôi được sống.
Có nước mà yêu: núi cao, biển rộng.
Có Đảng, Bác Hồ chỉ lối đi lên
Ôi! cái ngày ta được em chính quyền
Bụng đói lả, mà cuộc đời no hạnh phúc.

Anh yêu ơi! khi đọc trang thơ em nóng rực
Có lửa căm thù, có tiếng tình yêu.
Hai nhăm năm, không phải giấc chiêm bao.
Ta dựng lại đời ta, trên hai lần giặc phá.
Nhà Hạnh-phúc vẫn khói cơm thơm toả.

Con gái ta lại cắp sách tới trường xưa.
Những dòng sông, cầu lại nối đôi bờ.
Xe rầm rập ngày đêm vận chuyển vui
Dồn sức của, sức người ra trên tuyến
Trận cuối cùng, ta biết sức riêng ta.

Tôi muốn nói cùng các bạn bè xa
Từ người con gái anh hùng Xô-viết.
Trên giường bệnh ôm trái tim da diết
Bút giấy bên mình, lo viết cho Việt-nam
Đến người con trắng giải băng tang.
Thương nhớ Bác từ phương trời Thuỵ điền
Hắn hôm nay các chị càng xao xuyến.
Với những lời vẫn trang sách sáng ngời.
Đã góp phần chiến thắng cho quê tôi.

Hai nhăm năm Bác kính yêu ơi!
Nói sao hết lời chúng con ơn nhớ Bác.
Hôm nay bao bốt đèn đổ sập
Bao quân thù ngã gục ở miền Nam.

Những đứa con tuổi chẵn hai nhăm
Càng lớn mạnh với sức vươn cường tráng
Ở nơi xa, hẳn Bác vui, vì chúng con đang chiến thắng.

Hà Nội – Thái Bình

Hàng cây Bác Hồ

I

Những hàng cây chạy suốt xóm thôn
Những hàng cây dọc đường quốc lộ.
Những hàng cây đi biếc dòng mương
Những hàng cây xanh đồi, rợp chợ.

Bạch dàn lá liễu, phi lao thanh thanh…
Xà cừ lên thẳng, xoan nhãn vươn cành.
Những hàng cây từ vườn ươm phụ lão.
Theo lệnh Bác Hồ, trải khắp quê xanh.

Tôi đã nghe cây hát giữa chiều.
Rặng xoan đào rắc tim hoa yêu
-Em sẽ nâng mái nhà ai hạnh phúc.

Tiếng xà cừ đêm đêm mơ ước:
– Về dỡ hầm lò nghe sóng nỗi than đen.

Tiếng bạch đàn nhớ mãi đáng con thuyền
– Trương Chi xưa ca bài ca nước mắt.
Thuyền nay sẽ ra khơi bát ngát.
Giữa biền trời, tình yêu bao la.

Phi lao reo. vạt áo mỏng hơn tơ.
Gió tung quẩn quanh mình người đẹp.
Và trang giấy ngời vần thơ, điệu hát.
Ôi ước mơ hàng cây đang lên xanh.

II

Bỗng chiều nay nước dò mông mênh…
Cây đứng giữ con đường hợp tác.
Muôn trùng sóng cuốn băng làng mạc
Cây vặn mình ôm trọn vòng dê.

Giữa trắng băng cây đứng chỉ lồi về.
Cành vươn đỡ ba-lô, túi, bị
Cành đón bu gà, cành treo nôi trẻ.
Mặt trời tà, người ngoi ngóp ôm cây.

Cành ghép nâng cuộc sống đợi ngày.
Cành sưởi ấm lán, lều gió trăng.
Cây giữ thừng trâu, cây ôm rọ lợn.
Cây đón thuyền về dưa gạo muối vào dần.

Những bạch đàn gẫy hết thân cành.
Những phi lao không còn nửa ngọn.
Những xà cừ, những xoan dào tạt sóng.
Vẫn như người lính đứng hiên ngang.

Ôi! tình Bác yêu thương vẫn trùm bóng xóm làng!
Và ước mơ xưa cây dang thầm thì vượt sóng!


Kỷ niệm trận lụi 1969 tại Hà Bắc

Mái tóc mẹ bay

Tặng mẹ bị bom Mỹ sát hại, chỉ còn
một mái tóc trắng bay lên mái nhà

Khói bom tan rạng ánh ngày
Nóc không treo mái tóc bay, mẹ già.
Đất nhào tung cả thịt da
Mẹ ơi cuộc sống đã hòa nước non!
Nhớ sao những buổi chiều sương
Phơ phơ mái tóc trên đường trồng cây
Qua vườn trẻ tiếng hát bay
Mẹ vui tóc sáng giữa bày cháu thơm
Tiễn đàn con tới chiến trường
Đêm đêm tóc mẹ ốm trường, đảm đang.
Nhớ đêm cây lúa thẳng hàng
Ánh trăng nghiêng mái tóc gương giữa đồng.
Mẹ là mẹ cả xóm thôn
Mái dầu càng bạc, yêu thương càng giàu.

Giờ dây nắng chói tàu cau
Tóc vương bay trắng cả bầu không gian.

Lửa thù bốc rực căm hờn
Bay bay tóc mẹ sáng đường quân đi.

Gia Lâm, những ngày tháng 12-72

Một vòng tay

Xe đưa chủ tịch vượt cầu
Chiếc cầu giặc vừa phá hoại.
Một bóng người đang bò ngược lại
Vụt đứng nghiêm – Báo cáo cầu cong…

Một phút lặng im, tay chủ tịch ôm vòng
Người chiến sĩ áo còn lấy máu, đất
Hơi bom giặc đánh anh vừa ngát.
Tỉnh ra lửa cháy ngang sông.

Một phút lặng im, tay chữ tịch ôm vòng
Giữa khói lửa, anh công an lặng lặng
Nghẹn nước mãi mà lòng vui vô hạn
Anh đã được về tình mẹ thương yêu.

Cuộc đóng trên cầu, trưa nắng lửa nhiêu.
Mùa mưa, rét mình, đêm vắng vẻ.
Anh vẫn đứng trên cầu bảo vệ
Cho đôi bờ hoa nhịp ngược, xuôi.

Ngày tết hương qua, ngày lễ hoa cưới
Anh đứng đó, nhìn người đi lại.
Có những đôi kém nhau xe cưới.
Có những tác hiền âu yếm tiễn con.

Xe quân đi tiền tuyến dập dồn.
Xe rau đến nội thành tươi mát
Xe cán bộ, công nhân tấp nập.
Xe lãnh tụ qua cầu, tay vẫy yêu thương.

Giặc đến, hôm nay hùng hổ trút bom
Phả cuộc sống qua cầu dứt đoạn.
Chúng muốn giết cả anh.
Nhưng chúng đâu ngờ vượt lầm bữa đạn
Bên tay Đảng đến nâng niu.

Giữa nhịp cầu cong giữa khói lửa reo
Anh vụt thấy người dang lớn bồng.
Giơ thổi rộng, dưới chân ào sóng
Cầu lại nói đôi bờ, anh vẫn vững đầu sông…

Gia Lâm, 15-5-1972

Mùa xuân màu xanh

Tặng 37 cô gái xã N.

Khi tiếng pháo gầm dựng sóng lộn mây cao
Khói trắng mênh mông bọc kín thân tầu giặc.
Làng xóm hò reo, mẹ già rơi nước mắt
– Con gái ơi! Con đã trả thù làng!

Lều chỉ huy có Đảng yêu thương
Cô gái chắc tay trận đầu vượt sức.
Nòng pháo lớn không cân tầm vóc.
Tai bị ù vì tiếng nổ chưa quen.
Trước mắt cô cát cháy cây đen
Làng xóm đã vào sâu lòng đất.

Biết mấy khăn tang tuy không hẳn mái tóc
Nhưng đã hằn sâu tận chí căm thù.
Tàu địch cháy rồi! Trời biển lại về ta.
Cái buổi tung buồm lên biển rộng:
Niềm vui lớn reo từng con sóng.
Cá lại về hợp tác trắng sân phơi!
Vị ruốc đậm đà ngọt bát cơm khoai.
Lang, sẵn vươn xanh trong tầm bảo vệ.

Ôi! Mùa xuân màu xanh về dưới tay cô gái trẻ!

Xã N. 29-1-1968

Ngày hội bắn

Sông Lô. cả đêm qua thức những mái chèo
Sông nước năm xưa từng nhuộm hồng máu giặc
Nay trải tấm gương dài in bao màu sắc
Những thắt lưng vàng, váy gấm, yếm thêu.
Hội bắn mở giữa ngày đánh Mỹ
Có tay săn con gấu, con chồn
Tay phát nương ngô, tay tra lúa rẩy
Và tay dịu dàng mắc võng, đầy nôi con.

Bảy tỉnh về đây, hội thi bắn giỏi
Tấm khăn Piêu rực rỡ xa trường
Ôi cô Thái khi ngắm mục tiêu thù nắng dọi
Lá rụng sẽ không nhiều bằng mảnh máy bay tan.

Anh huấn luyện viên Nùng, trên bệ bắn
Góp ý đường đi cho đạn trúng vòng mười.
Người vợ bồng con, nâng cây súng đảm thang
Mỹ ơi, mày phải thua rồi.
Súng ngân, súng dài, năm, quì, đứng ban.
Cô gái Mường ở tận Cháu-mai
Anh Cao-lan đỉnh núi Là. mây trâng.
Đạn thi đua giòn, chói cả ánh trời.
Ngày hội bạn cũng ngày vui dân tộc
Sông sông Lô hòa làn sóng sông Do.
Giặc Mỹ đến đây núi cao càng có móc
Sau tiếng súng giòn, là tiếng chim ca.

Tuyên Quang, tháng 6-1967

Ngày sinh Bác

Con suối hôm nay ngoan ngoãn rẽ dòng
Nhớ lũ đêm nào, ới tấp mưa dông
Một chủ tch ba đêm không ngủ
Tiếng loa lên thôi thúc giữa mùa rừng

Một tia nắng cũng tươi vầng trán trẻ
Anh kỹ sư bên đồng chí chuyên gia
Bước lặn lội đón từng tia nắng loé
Ngày thi công náo nức cả trăm nhà.

Những bờ suối dài người dãi cát
Những đường goòng đá về dồn dập
Những xe quăng móoc nặng lên đèo.
Từ Hữu nghị quan, mang sắt thép về theo.

Ai tính ngược xuôi muôn vàn cây số?
Gió cấp mấy dồn no cánh buồm căng?
Điện tỉnh uỷ gọi qua bom đạn nổ
Từ bến cảng về nghìn tấn xi măng.

Hỡi những cô thợ chính xây nền!
Tay chị ân cần nâng đỡ tay em!
Hỡi anh công nhân mìn buông phá đá?
Đá sụt non cao hàng mấy quả?

Vợ rủ chồng trèo đỉnh mây cao
Cơm sắn ngang lưng, tay rìu đẵn gỗ
Rộn rã xe trâu ba cây một hộ
Chín mươi ngày bằng cả mấy năm qua.

Năm trạm máy bơm nước vòng đỉnh núi
Nghĩ: mùa về vàng ngợp thung khô.
Ông cụ Nùng chồng gậy xem không mỏi
Lòng reo vui muông nước tràn bờ.

Ngày sinh Bác. Cùng ngày sinh no ầm
Cũng ngày vui, đài hát lẫn chim ngàn
Ánh thuỷ điện chạy dài thôn bản
Sáng hình người, dối cả máy bay tan.

Lạng Sơn, 15-1963

Ngõ chợ Khâm Thiên

Hàng hoa ngồi sát hàng rau
Chợ vào vôi vữa quét sâu lối ngoài.
Óng đen lại guốc sơn mài
Ni-lông vàng tím treo dài cửa nghiêng
Biển căm thù, cắm bốn bên.
Những vành khăn trắng thoáng lên bóng mành
Tay người xếp gạch chia ngăn.
Cửa không lại ghép, bếp làn lại khơi.
Vài con lợn đất, bom vùi.
Lại nắm trên mẹt hồng phơi cửa ngoài.
Xe vào ai đứng bên ai
Gạo thơm từ đất, ruộng ngoài thành, thơm
Tay ai muối cải dưa giòn.
Thúng cam bán tết đỏ son mặt hàng.

Chật đường xẻ ủi hố bom
Chợ ta hợp với yêu thương ngõ dài.

30-12-1972

Người chiến sĩ

Có gan mới làm Giám đốc
Luôn luôn hàng triệu nợ, quanh đời
Anh cười, tay chỉ lên đồ bản
Khu vực trồng chè, khu chăn nuôi!

Khí hậu bình quân hai tám độ
Bảy mươi phần trăm mưa hàng năm
Tháng mười đến tháng ba, khô hạn.
Sương muối ba ngày trời tối tăm.

Toàn đất đá vôi trên diệp thạch
Đào hồ, nước hút, biến đi đâu?
Bỗng nhiên nước lại phun chan chứa.
Lũ lụt băng qua cuốn cả đèo!

Mười lăm năm mới hiểu được thiên nhiên.
Hội nghị “sương mù” họp sáng đêm.
Quyết nghị đốn chè sau trận muối.
Búp chè không sợ bị thút đen!

Nhớ buổi đầu tiên rời khẩu súng
Quân về tiến thằng tới đồi tranh.
Tiều đoàn trưởng, trước phăng dao phát
Mở lối quân đi chặt lá cành.

Một tuần mới tới Bản Hoa, xưa.
(Xe chạy hôm nay có một giờ.)
Đói nghỉ ăn, đêm cùng dựa ngủ.
Nào sên, nào vắt, nào sương mù!

Sáng họp chào cờ, người rét cứng.
Dựa nhau hơi ấm lại vùng lên.
Tay dao tay cuốc thay tay súng…
Dần dần nương lúa vượt tranh lên.

Rồi rau, rồi lạc, rồi ngô,đỗ,
Mưa trắng rừng, không tia nắng soi
Xe chuyển thẳng về Hà Nội đỗ
Ba đình mượn tạm góc sân phơi.

Anh cười thế đó?… Nông trường tôi
Ấu trĩ qua, nay ổn định rồi
Núi trồng chè, thảo nguyên cấy cỏ
Đón cừu, bò sữa lên, chăn nuôi.

Đón cả vợ con yêu tổ ấm
Quê hương sống chết Mộc Châu rồi!
Sum vầy Nam Bắc cùng xây dựng
Đoàn kết hai vùng cả ngược xuôi!

Khi thằng Mỹ tới, gay go đấy!
Chè đến thời xanh, búp nảy nhiều.
Cỏ biếc nông trường, Cừu trắng bãi.
Ngụy trang? Sơ tán? họp… xôn xao.

Hầm dào khắp gốc chè, chân núi.
Hào chạy quanh vòng qua thảo nguyên.
Báo động bò, cừu vào lũng, suối
Sao chè bếp lửa sáng hang đêm.

Người ra tiền tuyến, người thay thế…
Tay hái chè, tay bắn máy bay
Bò đẻ giữa mùa bom đạn dội
Lông Cừu cắt dưới ánh dù vây.

Đến nay thắng lợi dồn năng suất.
Đỗ tương bảy tấn, vàng sân phơi.
Gian kỹ càng nhiều theo bước tiến.
Mười lăm năm nữa… Mười năm thôi!

Anh dừng, đôi mắt xa… suy nghĩ
(Đôi mắt bao đêm thiếu ngủ rồi)
Tay chỉ một vùng sương khói phủ…
Mười lăm năm nữa, mười năm thôi!

Đón khách có nhà gương đỉnh núi
Quay tròn, xem một cuốn phim quay.
Kia tầng thuỷ điện, đây nhà máy
Lầu đẹp công nhân bóng nước đầy.

Đường thênh thang rộng, người chen hoa.
(Bỏ hết thủ công, cơ giới mà)
Khách cứ ung dung ngồi ngắm cảnh.
Có cô phục vụ rẽ mây qua!

Ôi người chiến sĩ! Tôi nhìn anh!
Tóc bạc âm thầm lẫn tóc xanh
Giữa vùng đất nước mù sương giá
Mơ ước theo anh sáng đỉnh ngàn!

Mộc Châu 12-7-73
Hà Nội 10-7-73

Vòng xe tỉnh uỷ

Tặng đ/c Đức và các đồng chí
Tỉnh uỷ Lạng Sơn

Cuộc họp vừa xong, xe tỉnh ủy
Chia nhau tới tấp về địa phương
Lúa chiêm teo, quắt dầm sương muối
Mưa đã cày sâu những chặng đường

Ôi! cài gió mùa đông bắc rét.
Kéo dài dằng đặc cả đông xuân.
Tầng tầng đồi trọc không ngăn gió
Tiếng rít hung hăng tựa hổ gầm.

Ai biết nỗi lo, lòng tỉnh ủy:
Lúa chiêm chết rét thay lúa xuân.
Đêm đêm hỏa tốc về tin điện
Mạ đến kỳ gieo thẳng, vững chân.

Hôm nay nắng hửng, rừng xanh phớt
Xe một vòng lên dốc cuốn mây.
Đá, cát công trường đâu cũng rộn.
Nước chờ về ruộng, núi chờ cây.

Giấy ký trên xe từng nhật lệnh:
Xi măng cho đập, phân trồng rừng
Mở thêm đường mới vào thôn bản
Thả cá lên hồ cao mênh mông.

Ai biết nói vui lòng tỉnh ủy:
– Năm nay sinh nhật Bác Hồ ta
Cùng ngày thủy điện dòng cao thế
Ánh sáng bừng lên khắp mọi nhà.

Qua khoảng ruộng khuya ôn cuộc họp
Đêm thầm, quyết nghị máy bay rơi.
Nhìn con mương đá bò ven núi
Yêu những bàn tay gái xẻ đồi.

Còn dãy đá vôi từng hút nước
Cả vùng ruộng bạn, lúa nhường ngô
Còn cơn gió bấc băng đồi trọc.
Lẫn tiếng phi cơ rú lượn lờ.

Gian khổ còn nhiều, còn chiến đấu!
Đá kia rồi sẽ có lò tôi.
Gió dù tác quái ngàn năm trước
Có những cây lên chắn cả trời.

Tỉnh ủy hay anh là tạo hóa ?
Đổi thay cuộc sống, ươm màu xanh.
Tôi nghe sông núi lại ca ngợi
Vì anh là Đảng của nhân dân.

Lạng Sơn, màu xuân 1968

Người nữ quân y chiến khu

Một đôi dậu, một chiếc thuổng con.
Bà Páo đi, giữa đoàn quân Giải phóng
Váy áo chàm bay theo tóc trắng
Từ đỉnh Khâu Nhi, xuống núi Nà Lừa.
Bàn tay già hái lá sớm trưa.
Đêm quân ngủ còn nghe chày giã thuốc.

– Ba ơi, tối qua con lại sốt!
Muỗi rừng làm rét từng cơn.
– Bắn Nhật ve, tay cháu dứt gân.
– Chân con trẹo vì chiều nay vượt núi.

Mái nhà sàn tiếng cười sôi nổi.
Người nữ quân y móm mém nhai trầu
– Miếng lá này dịt chỗ tay đau.
– Phát thuốc này dưới con muỗi ác.

Anh em tặng bà cá, thịt
Bà biếu lại dân
mắt ước mơ cười:
– Bà chỉ thèm cái ốc suối thôi
Bảo cháu dâu kiếm cho miếng ốc!

Bỗng một hôm núi, rừng xao xác
Dòng chí già trên lán không ra.
– Cái đồng chí già ốm chẳng nói qua!
Bà Páo lầm rầm gọi người lên núi.

Trong lán chỉ huy, trận sốt đang dữ dội
Quân cán vây quanh, nước mắt dầm dề.
Đồng chí già đang cố chống cơn mê.
Ôi bất hạnh nếu người trăng trối.

Từ đỉnh núi Hồng về, bàn tay vội vội…
Bà Páo gọi người vần gã bên khe.
Bắc nước đun sôi, nồi lá hái về.
Đưa đồng chí già xông tắm.

Ôi đồng chí già đi nhiều mưa nắng!
Phải làm cho đổ mồ hôi.
Không bệnh kết ông phù thũng, chết người.
Tiếc con người Cách mạng!

Khởi nghĩa về, bà Páo đi ngựa trắng.
Trở lại Khâu Nhi. Lên núi Nà lừa.
(Đồng chí già xông thuốc năm xưa
Giờ làm to đấy)!
Nhưng vẫn nghèo, vẫn gày ốm vậy!
Chỉ có cha ta cơm bữa, ngày ngày.
Đoàn thể cho ta ngựa cưỡi hôm nay.

Nhưng thật khổ đây!
Bác trai trách ta đi mãi!
Bảo ta già, bỏ núi thuốc trong quê.
Nhưng sao đồng chí già kia đi mãi cũng không về?

Bà Páo chào dân làng xuống núi
Ngựa trắng tung bờm, áo chàm phất phới.

Tân Trào, 11-1969

Nỗi nhớ chúng con manh xanh theo thời gian

Mang nỗi đau vắng Bác, một năm ròng
Con đã đi cùng khắp núi sông.
Từ những con đường đầu tiên đón Bác.
Gai cỏ còn ôm vết đi chưa nhạt.

Một buổi chiều biên giới rưng rưng…
Nhìn dãy núi cao, lên khắp đỉnh rừng.
Con nhớ đến những đồng bào Pắc-Pó
Bỏ bản năm nào, một đêm mưa gió
Lưng cõng mẹ già, vai súng, vai con
Để đến bây giờ-điện sáng đầu non.

Rồi đến bản hái hoa người dân áo rách
Hoa thịt nổi tròn như thêu như khắc
Siêu thuốc năm xưa, chữa bệnh Bác vẫn còn
Tấm phản Bác nằm, giờ ấm mái nhà son.

Con lại lên đỉnh đèo Pi-a-oóc
Nơi hai đội giải-phóng quân Nam, Bắc.
Gặp nhau giữa sương tuyết năm nào.
Giờ là cả một nông trường xanh thắm mùa rau.

Con tới cả cây đa Tân Trào năm trước
Cây đã thành rừng xum xuê bao gốc
Từ đinh Khau Nưa, lên núi Nà Lừa.
Lán Bác không còn, những cột đứng đơm hoa
Đập nước dâng cao, chìm rừng phách đỏ.

Ôi những lòng hồ thương nhớ
Những mương mang tình Bác tưới đồng khô.
Những đồi cây sóng lại tự bao giờ
Bác Hồ ơi, mới một năm vắng Bác.

Thái Bình đã vật nhau với đất
Gặt lúa xuân về hàng muối tấn vàng kho
Hợp tác xã Nam Cường lẫn biển năm xưa
Nơi đón Bác, đất còn mặn muối
Giờ đã thành đường dừa, bờ cam, bụi chuối.

Nỗi nhớ chúng con mang xanh theo thời gian!…

Hà Nội, đầu tháng 9 năm 1970

Ở vườn thực vật Clouj tôi muốn nói…

Tôi đến Clouj
Những ngọn đồi bao quanh thành phố
Những nhà thờ cò
Tháp chuông nhọn hoắt trời xanh.
Từng từng cửa nắng long lanh…
Những mắt người xinh gặp gỡ.
Tất cả… và tất cả…:
Đều làm tôi yêu mến thân tình.

Nhưng làm cho lòng tôi xao xuyến.
bâng khuâng…
Trong nhà kính, rèm xanh mát rượi.
Tôi đến đây, lại gặp những cỏ hoa miền nhiệt đới:
Khóm chuối la đà, bên gốc cọ, lá tròn xoe.

Hoa súng tím hồng, dưới những bóng tre.
Cả những lẵng phong lan lá rủ.
Cám ơn bàn tay ai nâng niu, gìn giữ.
Sự sống tươi hồng từ đất nước tôi xa.

Tàu chuối kia, hẳn các bạn không ngờ
Từng đã nguỵ trang ụ pháo.
Và lá cọ che giao thông hào chiến dấu.
Hoa súng này, cô gái dân quân
Đã tặng thương binh với cả trái tim mình.

Tôi muốn nôi với những cặp tình nhân tha thiết
Những nghệ sĩ dâng cả cuộc đời cho cái đẹp.
Những mẹ già dắt cháu tung tăng:
Các bạn đang đi trong bóng mát hoà bình.
Hẳn các bạn phải căm thù lũ giặc.
Nếu chúng đến đây làm cỏ hoa tan nát!

Các bạn ơi, giặc Mỹ đem bom hoá học, lân-tinh
Hoa cỏ trước tôi tuy có hy sinh
Nhưng chúng không giết được sắc hồng.
xanh thắm.
Và khóm chuối, bóng tre, vẫn đến đây với cả
màu tươi hoa súng.

Clouj, 20-4-1970

Phòng hạnh phúc

hân mến tặng vợ đồng chí Quân.

Chị đi từ nơi công tác
Với chiếc khăn sô thắt trắng ngang đầu
Bọn Mỹ mới giết anh
Bao nhiêu đêm thâm quầng đôi mắt
Phải tìm đến nơi chồng
Nơi còn lại nỗi đau!
Nhưng anh vẫn đứng kia, giữa hoang tàn đổ nát
Cùng với nhân dân dân nổi chiến hào
– Giải khăn sô chị để tang chiến sĩ
Góc hầm này, phòng hạnh phúc, vui sao!

Tay đồng chí thân yêu xếp đặt
Nửa trái bom bi, thơm mát hoa nhài

Có tranh bé má tròn cắt trong họa báo
Có chè ngon, và cá hộp, rau tươi.

Anh chưa kịp ngồi đôi với chị
Chưa kịp đưa tay đón bát cơm mời
Ngoài cửa hầm đã rung lên bom Mỹ
Anh vội vàng ra, ban đón giặc trời!

Còn mình chị, nhìn gian phòng hạnh phúc
Nửa trái hom bi, thơm mát hoa nhài.
Em bé cười trên vách hầm béo núc
– Giữa đạn bom này, đâu riêng nở mình vui?

Rồi khi dứt tiếng bom, khi bắn ngã giặc trời
Anh quay lại căn phòng hạnh phúc
Thư chị viết còn tươi nét mực:
!”Được gặp anh rồi, em có trọn niềm vui”

Xin cám ơn bạn bè, đồng chí
Phòng hạnh phúc chưa dành riêng chiến sĩ
Em cũng còn nhiệm vụ nơi xa
Chúc các anh vui, khỏe ở nhà!

Bạn bè đến chật hầm, ngồi nghe thư chị
Và đêm ấy, tiếng súng giòn diệt Mỹ.
Từ căn phòng hạnh phúc vang lên.
Lẫn tiếng cười, tiếng của cả yêu tin.

Hải Phòng những ngày tháng 4-1972

Phòng vắng

Tặng anh yêu

Bụi phủ đầy sàn gỗ
Phong lan rũ lá dài
Nắng phai rèm cửa sổ
Còn phàng phát tay ai.

Màn vắt vội, trên giường
Vẫn hàng ba chiếc gối
Ba mái đầu yêu thương
Đêm hòa bình rời rợi

Đâu rồi tiếng con reo?
Giang làn mây, lục quả
Đâu rồi mắt anh yêu?
-“Em đi nhiều vất vả.

Ôi! căn phòng mênh mông!
– Như lòng ta trống trải
Ôi! căn phòng lạnh lùng
Có mình ta trở lại!

Bếp dầu nhóm góc phòng
Tay quét sàn, rũ thảm
Một nồi thức ăn chung
Chia đều nơi sơ tán.

Con thích tôm to nhất
Chồng ưa đậu rán này
Phóng vắng mà không vắng
Tình yêu vẫn từ đây!

Hà Nội, 20-11-1967

Sao thu về quá vội vàng

Em về anh lại bay đi
Nhớ nhau cả một mùa hè, nắng khơi
Sáng nay, gió gọi cửa ngoài
Se se lá mướp hoa cài ánh sương
Chân trời mây trắng ngổn ngang
Mắt ai, mây có ngợp đường chia xa?
Đường anh, em đã từng qua
Bên dòng Đa-nuýp. nhìn hoa nhớ người
Mùa thu bên ấy, tuyết rơi
Mùa thu Hà Nội liễu phơi tơ vàng.
Nhớ nhau lại một mùa sang
Sao thu vì quá vội vàng thu ơi?

Hà Nội, 22-9-1970

Tiếng đất

Có ai nghe tiếng đất âm thầm?
Đã một trăm năm từ ngày mất nước
Giữa đồi sỏi sim mua thưa thớt
Giữa bụi, bờ xao xác tre gai
Giữa cánh đồng chó chạy hở đuôi
Cấy đứng, gặt ngồi đất không lấm cẳng
Có ai nghe tiếng than miền đất trắng?

Từ năm mươi vạn năm xưa
Đất ta sinh từ lòng đá
Qua những ngày băng giá
Nắng bốc băng tan, mưa đổ sói mòn
Mặt trời nung đá vụn đầu nguồn.
Nước cuộn đến hòa thêm dinh dưỡng.

Ta theo dòng sông Cầu chảy xuống
Thành phù sa bồi đắp ruộng đồng
Thêm những tay người vun xới ươm trồng.
Trăm năm trước đất nằm xanh bóng mát.
Cây đứng đầy ôm, ruộng đồng tươi ngát

Trăm năm sau đã là đất bạc màu
Ôi! ai biết nỗi thầm đau?
Khi ruộng đất vào tay giặc cướp
Những người nông dân đói khát.
Cúi mình trên thửa ruộng độc canh.
Hai vụ chiêm, mùa nước sũng bàn chân
Đất dầm, cơm nắng
Bờ cao, thấp… bàn tay vào ngăn chặn?
Nước rửa trôi màu mỡ dần mòn
Lúa gặt về đầy một nhà rơm.

Hạt thóc nhẹ tênh như bụng ngụm gầy, lép
Rồi sưu, thuế, tức, lô cho cả bầy ăn hiếp
Người bỏ lên rừng phát rẫy làm nương
Mặc cho nước lũ lối mòn
Đồi lại đồi năm trơ sỏi cát.

Kể sao hết cuộc đời xơ xác
Những bà già dũi tép khắp đồng chiêm
Những chão thừng vặn cả cột xoan nghiêng.
Những cô gái tha phương cây mướn.
Đời phụ nữ như cá rô khô dưới ruộng
Rạ ngắn lợp nhà chả kín kèo tre.

Ai có nghe tiếng than miền đất bạc?
Đất phụ người? hay người phụ đất?
Những buổi chiều mờ xám sương dông
Mưa miên man gió hú khắp đồng
Từng đoàn rách rưới
Bị nát đeo vai gánh con lủi thủi.
Đất chẳng nuôi người, người đành bỏ đất ra đi
Ai có nghe…
nghẹn ngào tiếng đất!

Tiếng gọi đồng hương

Có ai Nam Hà? Ai Thanh Hoá?
Có ai Hà Bắc-Lạng Sơn?
Hà Nội, Vĩnh Phú có đây không?
Tiếng náo nức từ Trường Sơn vang vọng
Từ giữa phá trăm cánh buồm mở rộng.
Từ đêm giao thừa xe ngược, xe xuôi
Cả hậu tuyến ra đi
Tiếng gọi bồi hồi…
Hà Nội dâu?
Đâu Thái Nguyên?
Đâu Hà Bắc?
Đường gặp gỡ dù phút giây ngắn nhất
Ta dốc ba-lô như dốc nỗi vui mừng
Nhát dao anh cắt nửa bánh chưng
Bó hoa em lưng đèo hái vội

Phấn khởi chào nhau
Tiếng cười
Tiếng nói
Có cái gì ấm áp thương yêu
Nâng bước ta đi sung sướng, tự hào
Thanh Hoá đâu?
Nam Hà đâu?
Đâu Hà Bắc?
Đêm xuất kích gọi nhau chưa tỏ mặt.
Ôi! cái nghĩa đồng hương đã đủ nhất
Cùng một dòng sông, dãy núi cùng quê
Cùng một con đường làng xóm tiễn ta đi
Cũng một cánh đồng người yêu vào hội cấy
Cũng nghe xa tiếng còi nhà máy
Cùng biền, cùng trời ăn cá nục cá cơm
Cùng điệu chèo quan họ, xầm xoan
Hò sông Mã cùng dài đêm nước chảy…

Trước mắt ta dù bom rơi lửa cháy
Bạn đồng hương dù chưa rõ tên nhau
Chưa kịp tâm tình lấy một đôi câu
Nhưng ta hiểu cùng tiến lên phía trước

Phải cùng hắn quân thủ ngã gục
Cùng trả thù cho cả xóm làng ta
Cùng giữ quê hương, giữ lấy nước nhà.
Hà Tây đâu? Hải Phòng đâu? Đâu Việt Bắc?
Đâu Tuyên Quang?
Đâu Cao Bằng?
Đâu Hà Bắc?
Ôi! Tổ quốc là tất cả đồng hương
Giữa chiến hào
Rộn rã tiếng yêu thương.

Xuân 1968

Tiếng hát ai chè

Tặng những nàng dâu Nam Bộ

Tôi đứng ngắm nương đồi thoai thoải
Xanh xanh, tít tắp màu xanh trải.
Những búp tơ non óng mượt mà
Những búp chè xuân chát ngọt, thơm hoa.

Tiếng hát đã lên nương, nhịp nhàng ngân vút
Bàn tay ai đang nảy phím dương cầm.
Không, những bàn tay nhanh nhanh bắt búp
Hay bắt về anh biếc của mùa xuân.

Những bàn tay của người vợ đảm.
Tiễn chồng đi, mùa lại đốn chè
Từng buổi mưa sương, từng đêm giá lạnh.
Nhớ thương đồn lưỡi phảng loáng sao khuya

Ơi những người chồng! mồ hôi anh đã đổ
Tưới gốc chè này, cho đất Bắc thêm xanh.
Ai hiểu tình ai: trái tim chia nửa
Ở hậu phương này, em tiếp tay anh.

Gian khổ có, nhưng sao bằng trong ấy.
Ta gắng thi đua mình lại nhủ mình.
Khi tầm bom đã bao trùm nương rẫy
Búp chè xuân dù sém
Phải lên xanh!
Tiếng hát, tay đây tiếng tâm hồn?
Không, chỉ có tiếng hái chè dào dạt:
Tôi nhìn những lẵng xanh ngan ngát
Thoăn thoát theo người, xuống núi, lên nương.

Nông trường Cửu Long
Đầu xuân 1968

Tập thơ: Lệ sương (1996)

Thơ! Thơ!

Chân tay cứng dần, ngồi đứng khó khăn
Nhưng không bao giờ anh rên một tiếng
Có chiều em bận bịu nấu ăn
Anh lẩm bẩm nói riêng trong miệng:

– “Bệnh tật mãi thế này, thà chết quách cho yên!
Chỉ thương vợ một mình cô quạnh!”
Em vội chạy ra: “Sao anh nghĩ quẩn?
Đau ốm chữa dần, không được chết nghe anh!”

Anh gượng cười, tựa ghế lặng thinh
Em thoáng lo nhưng vẫn tin anh sống
Nào ngờ đâu một tối vô tình
Anh hôn mê cạnh em, bất động

Lay gọi mãi, anh tỉnh dần nhưng không còn sức sống
Em tuy lo nhưng vẫn không tin
Vì đã hai lần anh vượt qua cái chết
Chả bao giờ anh nỡ bỏ em!

Vào bệnh viện, giật mình nghe bác sĩ:
– “Nhũn não hết rồi, anh khó vượt qua!”
Gần một tháng bên chồng rên rỉ
Thắt ruột đêm ngày nghe tiếng gọi: Thơ! Thơ!

5-1-1995

Thương em

Trong tiếng rên của anh, em thiếp ngủ
Không biết tự lúc nào?
Đêm đã tàn canh
Chợt choàng dậy, giật mình!
Nhưng tự nhủ!
Chợp mắt chút rồi, thêm tăng sức trông anh

Nhưng nhìn lại, anh vẫn nằm bất động
Miệng trắng khô, không dứt tiếng kêu rên
Em vội lấy mật ong lau cho ướt giọng
Rồi xoa mảng ngực gầy, dỗ anh cố ngủ yên

Giờ nhớ lại, xót xa, vì sự thật
Anh gắng nằm im, bởi quá thương em
Nhưng bệnh đau, lệ vẫn dàn khoé mắt
Một phút lặng ngừng.
Như cả đất, trời nghiêng!

4 giờ ngày 4-11-1994

Về nhà

Về nhà! Về nhà! Về nhà! Về nhà!
Tiếng anh da diết suốt đêm qua
Biết mình bệnh nặng không qua khỏi
Nghe thắt lòng? “Ước muốn xót xa”

Anh biết rồi đây tổ ấm êm
Mình em một bóng, một tim đèn
Anh thương vợ, thương căn nhà vắng
Ước một lần thôi sống với em!

Nhưng bệnh đang cơn thiếu ốc-xy
Tay chân bại liệt sao mà đi?
Chung quanh bác sĩ rồi y tá
Rối rít truyền thêm thuốc cứu nguy!

Về nhà! Về nhà! Về nhà! Về nhà!
Hôm nay rước ảnh với hương hoa
Em đưa anh về lại nơi mong muốn
Ấp ủ tình riêng giữa chúng ta!

Con, cháu, bạn bè theo bước em
Màn xô loá trắng ánh hoa đèn
Thắp hương ba nén, ba lần vái
Hồn linh anh hãy ở cùng em!

Trưa 11-11-1994

Thơ dịch của tác giả khác

Tặng D

Biết bao nhiêu đàn bầu
đã thành than muội?
nhưng ai có thể bao giờ
đốt ra tro một tiếng nói con người
với những bổng trầm rung động
như khổ đau vô tận
như hy vọng vô biên…

Biết bao nhiêu đoá hồng nhung
đã bị giày xéo?
nhưng trong những khung cành cháy
còn lại con tim của người

Hi vọng sau khi thưởng thức 2 tập thơ của nhà văn Anh Thơ trên đây sẽ giúp độc giả hiểu rõ về giọng thơ, chất thơ, những tâm tư tình cảm mà nhà thơ Anh thơ gửi gắm vào thơ của mình.

5/5


(1 Review)

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags: ,