Tuyển tập thơ hay, nổi tiếng nhất của thi sĩ Bùi Giáng (Phần 1)

Bùi Giáng sinh năm 1926 và mất năm 1998 sinh tại Thanh Châu, Duy Xuyên Quảng Nam. Ông chính là con thứ của ông Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiều. Bên cạnh đó ông rất được độc giả và các tác giả khác yêu mến. Một vài tác phẩm của ông đã được in trong sách giáo khoa như “Một vài nhận xét về bà Huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm”… Nhưng có thể nói tập thơ nổi tiếng nhất của ông chính là Lá hoa cồn (1963).

Thông tin về nhà thơ Bùi Giáng

Ông được đánh giá là một người tinh thông ngôn ngữ mặc dù đa phần ông tự học và tự học cũng rất trễ. Kể cả những ngôn nhữ khó như chữ Hán, Tiếng Đức ông cũng rất tinh thông và làm mọi người trong văn giới phải kinh ngạc.

Những cuốn sách đầu tiên của ông được in vào năm 1957, và ông đã trở thành một cái tên được đông đảo bạn đọc biết đến. Với một số biệt danh như: Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…

Gần đây nhất ông đã dịch một số tác phẩm và được tái bản rộng rãi của các cuốn sách Anh, Pháp, Hán văn như Hamlet của Shakespeare, Hoàng tử bé của Saint Exupéry, Ngộ nhận của Albert Camus, Khung cửa hẹp, và Hoà âm điền dã của André Gide, Kim kiếm điêu linh của Ngoạ Long Sinh…

Bên cạnh đó ông cũng đã biên soạn các tiểu luận triết học và văn học như Tư tưởng hiện đại, Thi ca tư tưởng, Lễ hội tháng ba, Con đường ngã ba, Con đường phản kháng, Đi vào cõi thơ… Đặc biệt, gây nhiều tranh luận sôi nổi nhất là những tập thơ của ông, từ Mưa nguồn, Lá hoa cồn… đến Trăng châu thổ, Sương bình nguyên, Bài ca quần đảo, Rong rêu… Ai đã từng tiếp xúc Bùi Giáng trong trang sách lẫn ngoài cuộc đời, hầu như chưa thể bình luận gì về ông…

Vào 2h chiều ngày thứ 4, 7 tháng 10 năm 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy ông đã qua đời và cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi viếng linh cữu của Bùi Giáng đã viết lưu niệm trong sổ tang:

Bùi Giang Bàng Dúi Bùi Giàng
Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
Hoá ra thi thể là ngàn hư vô

Nhớ thương vô cùng là từ
Là từ vô tận ứ ừ viễn vông

(Trịnh Công Sơn – 1998)

Các tập thơ đã xuất bản

– Mưa nguồn (1962)
– Lá hoa cồn (1963)
– Màu hoa trên ngàn (1963)
– Ngàn thu rớt hột (1963)
– Bài ca quần đảo (1963)
– Sa mạc trường ca (1963)
– Sa mạc phát tiết (1969)
– Mùi hương xuân sắc (1987)
– Rong rêu (1995)
– Đêm ngắm trăng (1997)
– Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994)
– Thơ Bùi Giáng (California, 1994)
– Mười hai con mắt (2001)
– Thơ vô tận vui (2005)
– Mùa màng tháng tư (2007)

Ai đi tu

Trời sầu đất muộn thế ru
Ban đầu em đã đi tu vội vàng
Chân trời oán hận tràn lan
Lỗi từ phương trượng u hàn niềm hoa
Bây giờ ngó lại người ta
Gẫm rằng thiên hạ ai là đi tu.

Anh em

Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ
Kể ra từ bấy tới giờ
Tình yêu phảng phất như tờ giấy rung.

Ăn mặc nâu sồng

Thấy nàng ăn mặc nâu sồng
Bỗng mơ tưởng tới ruộng đồng hoang liêu
Lầu xanh dứt nhịp phù kiều
Tà xiêm bạo động tư triều giậy cơn
Nâu sồng ăn mặc sớm hôm
Ðêm nằm ngó nguyệt sáng dòm song the.

Bao giờ

Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng

Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng

Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng giờ từng phút

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không.

Bé con ơi

Rong rêu ngày tháng rong chơi
Tìm xuân tinh thể chốn nơi nào là
Sưu tầm túy vũ cuồng ca
Hồn nhiên như thể như là hài nhi?
Chiêm bao tóc thuận tơ tùy
Tồn sinh nặng nhọc nhu mỳ ở đâu
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
Miêu Cương mạc ngoại hoài mong
Hồng hoang chín bệ tấm lòng đầu thai
Mùa xuân hiện giữa ngàn mai
Nguyên hình Nữ Chúa trên ngày phù du.

Bên quán cà phê

Cà phê vô tận mưa nguồn
Thành thân vô lượng vui buồn gọi nhau
Em đi ngõ trước vườn sau
Chào Xuân đâu biết niềm đau mưa nguồn

Niềm vui bất tuyệt cứ tuôn
Xuân xanh bát ngát rẩy run phập phồng
Sát-na hiện tại phiêu bồng
Này băng tuyết nở muôn hồng tương lai

Cà phê nhớ buổi hôm nay
Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau
Ông từ vĩnh biệt tiêu tao
Buồn vui vô tận chiêm bao chập chờn…

Bữa nay ruộng nhớ

Ruộng đồng mọc lúa
Ruộng đồng mọc lúa quanh năm
Em về đại lộc tôi nằm Bình dương
K ra hai nẻo lộn đưng
Sầu riêng châu chấu một nưng năm xưa

Ruộng đồng không mọc
Ruộng đồng không mọc lúa mùa
Từ hôm cánh tr¡ng cò lưa tiếng buồn
Đêm nào nhỏ giọt khe mương
Đêm này rớt hột mù sương bây gi.

Bữa nay ruộng nhớ
Bữa nay ruộng nhớ lưng tri
Thông ngàn lũng tạ núi ngồi chiêm bao
Ra đi mang hận hội nào
Cổng xô còn vọng điệu chào bay ngang.

Cảm đề La porte étroite – Gide tặng Sophocle

Ta về giũ áo đười ươi
Trút tờ phong nhã cho người phụ nhau
Em về thảng hoặc mai sau
Diệu Hoa lầu các đêm nào hoá sinh
Còn nghe cơn cớ bất bình
Đầu xuân rất mực biên đình ra hoa
Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhuỵ cho tà huy bay

Cảm đề La porte étroite – Homère tặng Gide

Ruộng đồng chưa thể đoán ra
Rằng trong ý bạn là ta lên đường
Tứ tuần tâm hoặc sương lung
Ngao trong tình luỵ một vùng thanh sam
Còn nguyên phố thị hội đàm
Với trăng châu thổ muôn vàn dưới kia

Cảm đề La porte étroite – Thu Juliette

Nguyên từ đức dũng có thừa
Âm thanh vội tạc giữa mùa hoài trông
Ngày mai cá sóng phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi

Đào nguyên mù mịt mưa tuôn
Em sầu Tố Nữ em buồn Tiên Nga
Ta về ngóng lại mưa sa
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào

Cảm đề La porte étroite – Xuân Alissa

Em nằm với lá trong cây
Bữa hôm nay mộng thấy ngày hôm qua
Môi cười ở cuối sân ga
Phố nào cố quận xưa là tiễn nhau
Lệ vàng xanh mắt mai sau
Chùm bông tuyết mỏng pha màu vĩnh ly

Cây cỏ dậy thì

Em đi cây cỏ dậy thì
Ngày xuân vô lượng cùng đi lên đường
Trùng lại giây phút phố phường
Niềm vui quá khứ phi thường hồi sinh.

Có lẽ (II)

Có lẽ người là
thật xa lạ
Hoặc là rất mực
quá quen thân
Sa mạc lớn dần…
từ như thế
Em từ mây tụ tới mưa tuôn

Của em

Em vui vô tận mặt trời
Em buồn vô lượng muôn đời mặt trăng
Ấy tuy nhiên có nghĩa rằng
Trăng tròn rất mực mà hằng hằng vuông
Chúng ta chữ S cỗi nguồn
Chữ O khép lại đầu truông cuối đèo
Tao phùng ngọn gió trong veo
Trùng lai Giang Tả tuyết gieo giọt vàng
Bên lời ước nguyện đá vàng
Ngựa về núi đá diêu tàn đầu thai
Em về bến mộng một mai
Chào em như một trúc mai trì trì
Bình minh phụ xướng phu tuỳ
Hoàng hôn thâm tạ nhu mì của em

Cũng là như thế

Nằm giữ vườn cây nhớ bốn trời
Ba bề bảy ngõ nhớ muôn nơi
Tưởng chừng thiên hạ menh mông qúa
Mà thơ ta chỉ có vài lời
Tặng người có nhận hay không ?
Thong long lá lục hoa hồng
Trái soài vàng ửng nắng lồng sương mai
Tôi nằm ở giữa vườn cây
Tấm lòng men rượu từ nay chịu chừa
Điên cuồng nhảy múa sớm trưa
Từ nay chấm dứt – thượng thừa hoàng trang.

Dư vang

Sáng nay chim hót lạ lùng
Tưởng từ mộng tưởng núi rừng xa xôi
Sáng nay mây gío đầy trời
Vườn Xuân lá lục em ngồi ngắm hoa

Sáng nay tình tự ngọc ngà
Người yêu ở lại giang hà tuổi xanh
Ngàn dặm em đi cùng anh
Dừng chân bến nước long lanh mây vàng

Ta ngồi ngóng mãi dư vang
Kéo dài giữa cuộc tân toan sinh bình
Dư vang từ những bình minh
Phương trời cổ lục kiên trinh đợi người.

Đêm chiêm bao

Màu xanh trút giũ tay vàng
Biển đêm náo động nằm ngang nghe trời
Mộng cuồng nhớ một người thôi
Dọc dừa kiêu hãnh làn môi nhu mỳ
Hình dung chớp nhoáng chân đi
Cầu rung động nhịp sương thì thầm gieo.

Đêm Lục Tỉnh

Những điều trông thấy mà ra
Chiêm bao nghi hoặc hằng nga trên trời
Buồn như chết ở giữa đời
Từng đêm lục tỉnh xa vời từng đêm
Gặp ông Khổng Tử bên thềm
Gặp bà Khổng Tử trang nghiêm nụ cười.

Đường xuân bài 14

Đường xuân chờ đợi đã lâu
Bàn chân em bước từ đầu tiên đi
Em đi lúc gió đang bay
Gió bay em bước cỏ say sưa mừng
Bàn chân trần năm ngón chân
Chân năm ngón như sương đầm lá ướt
Cỏ chào em như phơi mở linh hồn
Em giẫm lên nhẹ nhẹ dịu dàng
Tình yêu xuân thăm nồng nàn xiết bao
Cõi bờ từ đó về sau
Em từ bờ cỏ chiêm bao đi về
Xuân xanh từ đó tê mê
Nhân gian vô lượng hội hè một hôm (liên miên).

Em Mọi điên

Một tiếng hát giữa rừng hô hấp
Chết trăm năm ẩn nấp khung đời
Trời ma đất quỷ hai nơi
Em điên từ bữa ra đời em điên
Beo và cọp trước tiên chạy trốn
Vượn đìu hiu nhìn lộn cây hoa
Em về giũ áo mù sa
Tiền trình vạn lý anh là đười ươi.

Em Mọi ơi

Chiều nay anh làm thơ
Chẳng còn hay như trước
Suốt một tháng
Viết không được một câu
Thì lấy đâu ra thơ
Mà tặng em cho được
Tặng một câu cũng chưa đủ
Thì lấy đâu bốn câu
Cho đủ một bài.

Gà gáy sáng

Gà gáy sáng, năm rưỡi giờ
Giờ sáu rưỡi, ngồi làm thơ
Tính tình di dưỡng mộng mơ điều hòa
Phiền khúc nghiệt, phá nguyệt hoa
Càng thêm hoa nguyệt thiết tha càng càng
Não nùng phong vận tân hoan
Phu mỳ ngậm đắng dịu dàng nuốt cay
Thiên hương quốc sắc lạ thay
Một tòa sẵn đúc dày dày thiên nhiên
Khiến đời tứ đảo tam điên
Cuồng quay đảo phụng cường kiên điên hoàng
Ấy phúc lạc, ấy hân hoan
Ấy ai dặn ngọc thề vàng với ai…

Gái bờ mương

Kể từ gái lội bờ mương
Quần không ráo nữa suốt đường mai sau
Hào hoa lơ đễnh vẽ màu
Nhớ nhan sắc bỏ quên sầu gái sao?

Gập ghềnh chân thấp chân cao
So làm sao được làm sao so làm?
Kể ra câu chuyện chán nhàm
Mà muôn năm vẫn bao hàm nhân gian

Mùa xuân thu vội gieo vàng
Rớt nhung nhớ hột xuống hàng lạnh xương
Kể chi câu chuyện môi hường
Hôn làm chi gái bờ mương không quần

Gõ cửa tồn sinh

Suốt đời phải thức suốt đêm
Suốt ngày ngủ nướng mới nên con người
Tồn sinh quá khứ chôn vùi
Cơn say suốt kiếp – trận cười thâu canh
Bình sinh lao khổ đã đành
Cũng từ bình sử tựu thành mà ra
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”.

Gửi lá đầu cây

Em về ngắm lá đầu cây
Mốt mai từ giã ngàn cây muôn vàn
Tôi về chín suối lang thang
Tìm em kiếp trước theo tràng giang trôi
Ngổn ngang kỷ niệm nỗi đời
Trong lồng chim hót (!) ngoài trời gió bay.

Hãy vô ngôn

Giập đầu vái tạ cô nương đẹp
Dám hỏi bao giờ có đẹp hơn
Miệng ngọc cười xoà lên tiếng đáp
Rằng xin các hạ hãy vô ngôn.

Hồng Quần

Quần sẽ đỏ từ khi trăng là nguyệt
Kinh là kỳ từ châu quận tân toan
Từ xứ sở đắng cay thu đầu chết
Bước dã man sầu xé lá gieo vàng.

Lá sẽ đỏ từ vàng da mũi tẹt
Môi là mềm hoa mọc mật cong môi
Từ bờ cõi chia xương chua là ngọt
Trút lang thang từ nát mộng lên trời.

Mộng sẽ đỏ từ hoa đêm ghẹo chọc
Cánh thay hồng từ cánh đỏ cuồng điên
Từ thung lũng mù kêu mưa gọi móc
Tới phiêu du từ vầng nhật qua miền…

Huế làm thơ

Tôi vào Sài Gòn lúc đầu
Thật là bỡ ngỡ mối sầu Thừa Thiên
Rồi sau đó thật tuy nhiên
Quen vui với chị thuộc phiền với em
Bây giờ tôi nhớ Thừa Thiên
Nhớ thôi chút ít chứ phiền thì không
Mỗi mùa xuân lá trổ bông
Quên tờ cung chúc cũng không hề gì
(Chiến tranh nghĩ cũng ly kỳ
Những thằng thi sĩ còn kỳ ly hơn)

Hương hoa đầu tiên

Cây mít ra trái bồ đào
Dì Trang ra hái hoàng mao khuynh thành
Trái cây năm tháng dụm dành
Cõi đời chất ngọt ngọn ngành chở che
Ra hoa từ đó tròn xoe
Môi người chúm chím lúc nhe răng cười
Hình dung quốc sắc đất người
Quả nhiên tụ kết muôn trời thiên hương
Thiên thanh bừng nở hằng thường
Xuân xanh đóa đóa mộng trường hoa hoa
Thưa em đời rộng chan hòa
Niềm đau ngào ngạt vì hoa ban đầu
Kể từ cảm ứng tiêu tao
Toàn nhiên dự cảm hương màu sơ khai.

Không đề (VI)

(Tặng riêng cho Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo. Bài thơ phổ biến lần đầu vào tháng 9 năm 2000 với chữ ký và lời đề tặng của tác giả.)

Những người bạn
từ xa xôi về
Đem lại cho chúng tôi
những niềm vui vô lượng
Có người cười rực rỡ như mặt trời
Có người ngậm ngùi
khóc kể (lể) như mặt trăng
Có người hỏi không hiểu Việt Nam
là gì như thế
(vì người ấy rời Việt Nam lúc ba bốn tuổi)
Dù sao tất cả vẫn dường như là
tin cậy, tin yêu
vào một cái gì đó tương lai sẽ
đem lại cho đất đai xứ sở nghèo khó
một chút gì bất ngờ sẽ
chuyển dịch toàn thể vào một
xán lạn bất thình lình
và mọi sự sẽ sẽ sẽ vân vân vân…

Trên đây là những bài thơ hay nhất của thi sĩ Bùi Giáng mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Có thể nói Bùi Giáng đã dành cả cuộc đời của mình để cống hiến cho văn chương chính vì vậy kho tàng thơ văn của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Và bạn cũng đừng quên theo dõi Những bài thơ hay nhất của thi sĩ Bùi Giáng phần 2 nhé!


5/5


(1 Review)

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags: