Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến hay đặc sắc phần 8

Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến đa phần là các sáng tác mang đậm chất trữ tình. Và dù ở đề tài và vấn đề nào đi chăng nữa thì nhà thơ này cũng được đánh giá rất cao. Đó cũng chính là lý do thơ văn của ông chính là điểm sáng của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 đầu 20. Và ông cũng chính là người có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của văn học dân tộc ta.

Thập nguyệt thập cửu nhật vãng bái Vụ Bản Trần tiên sinh kỵ nhật

十月十九日往拜務本陳先生忌日
一拜師門十五年,
墓前松柘尚依然。
老來朋輩俱如鶴,
亂後文章不值錢。
禮意未隨風雨散,
道心猶幸火薪傳。
歸舟回憶蒹葭外,
月影波心處處圓。

Thập nguyệt thập cửu nhật vãng bái Vụ Bản Trần tiên sinh kỵ nhật
Nhất bái sư môn thập ngũ niên,
Mộ tiền tùng giá thượng y nhiên.
Lão lai bằng bối câu như hạc,
Loạn hậu văn chương bất trị tiền.
Lễ ý vị tuỳ phong vũ tán,
Đạo tâm do hạnh hoả tân truyền.
Quy chu hồi ức Kiêm hà ngoại,
Nguyệt ảnh ba tâm xứ xứ viên.

Dịch nghĩa
Ngày trước một lần đến lạy cửa thầy cách đây đã mười lăm năm
Cây thông cây trà trước mộ vẫn như cũ
Về già bạn bè đều như chim hạc
Sau buổi loạn văn chương chẳng đáng giá một đồng tiền
Ý lễ chưa đến nỗi tan tác theo cơn mưa gió
Lòng đạo may còn được truyền mãi như lửa với củi
Thuyền quay về nhớ lại cảnh Kiêm hà
Bóng trăng giữa lòng sông đâu đâu cũng tròn

Thất tịch ô

七夕烏
瞻烏止誰屋,
胡為頭頂禿。
相傳架銀橋,
年年甚勞碌。
他處豈無禽,
何爾偏受毒。
乃知秋風嚴,
天上令亦酷。

Thất tịch ô
Chiêm ô chỉ thuỳ ốc,
Hồ vi đầu đính thốc.
Tương truyền giá ngân kiều,
Niên niên thậm lao lục.
Tha xứ khởi vô cầm,
Hà nhĩ thiên thụ độc.
Nãi tri thu phong nghiêm,
Thiên thượng lệnh diệc khốc.

Dịch nghĩa
Con quạ kia đậu ở nhà ai
Tại sao mà đầu lại trọc lốc như thế?
Truỳen rằng nó bắc cầu sông Ngân Hà
Hàng năm rất khó nhọc
Nơi khác há không có chim
Tại sao riêng mày phải chịu sự thiệt thòi đó?
Mới biết rắng khi gió thu rất gay gắt
Lệnh trên trời cũng hà khắc lắm!

Thị tử Hoan

示子懽
未有官時欲做官,
有官始覺做官難。
宦濤祇以輕心掉,
利局何能冷眼看。
浪注金銀囊已罄,
不知蝦賭席將殘。
吾兒自信聰明在,
曾否吾言揭座端。

Thị tử Hoan
Vị hữu quan thì dục tố quan,
Hữu quan thuỷ giác tố quan nan.
Hoạn đào chỉ dĩ khinh tâm trạo,
Lợi cục hà năng lãnh nhãn khan.
Lãng chú kim ngân nang dĩ khánh,
Bất tri hà đổ tịch tương tàn.
Ngô nhi tự tín thông minh tại,
Tằng phủ ngô ngôn yết toạ đoan.

Dịch nghĩa
Chưa được làm quan thì muốn làm quan
Được làm quan rồi mới biết làm quan là khó
Bể hoạn sóng gió chỉ nên chèo với tấm lòng coi nhẹ
Thấy cuộc lợi sao cho có được con mắt lạnh lung
Dốc bưađ tiền bạc ra túi đã rỗng tuyêch
Không biết rắng canh tổ tôm đã sắp tàn
Con vẫn tự phụ là thông minh đấy
Đã viết lời ta mà dán lên chỗ ngồi chưa?

Thiền sư

蟬師
人謂先生愛我兒,
愛兒之母有誰知。
架橋舊句非無謂,
攬鏡前人只自悲。
只恐世間無寡婦,
莫言天下欠蟬師。
愛師欲為愛兒教,
校得兒成母又癡

Thiền sư
Nhân vị tiên sinh ái ngã nhi,
Ái nhi chi mẫu hữu thuỳ tri.
Giá kiều cựu cú phi vô vị,
Lãm kính tiền nhân chỉ tự bi.
Chỉ khủng thế gian vô quả phụ,
Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư.
Ái sư dục vị ái nhi giáo,
Giáo đắc nhi thành mẫu hựu si.

Dịch nghĩa
Người ta bảo thày đồ yêu con ta
Nhưng ai biết đâu là thày lại yêu mẹ của con?
Câu hát “bắc cầu” cũ không phải là không có ý nghĩa
Nhân duyên “cầm gương” trước chỉ tự gây nên đau buồn
Chỉ sợ thế gian không có đàn bà goá
Đừng nói thiên hạ thiếu thày đồ ve
Yêu thày là vì muốn thày dạy cho đứa con yêu của mình
Biết đâu rằng dạy được con khôn thì mẹ lại hoá ngây

Thoại cựu

話舊
昔日從師俱妙齡,
至今鬚髮儘星星。
窮通底局知誰主,
老大何人為我兄?
伏枕不勝驚昨夢,
回頭已若隔前生。
吾儕安得中山酒,
一醉悠然到太平。

Thoại cựu
Tích nhật tòng sư câu diệu linh,
Chí kim tu phát tận tinh tinh.
Cùng thông để cục tri thuỳ chủ,
Lão đại hà nhân vi ngã huynh?
Phục chẩm bất thăng kinh tạc mộng,
Hồi đầu dĩ nhược cách tiền sinh.
Ngô sài an đắc Trung Sơn tửu,
Nhất tuý du nhiên đáo thái bình.

Dịch nghĩa
Ngày xưa theo thầy đi học đều còn trẻ tuổi.
Đến nay râu tóc đều đã đốm bạc.
Cuộc cùng thông biết ai làm chủ,
Người nào già cả, đáng làm anh ta?
Tựa gối xiết nỗi kinh sợ về giấc mộng đêm qua,
Ngoảnh đầu nhìn lại, như đã cách kiếp trước.
Ước gì bọn ta có rượu Trung Sơn mà uống,
Say một giấc dài cho đến ngày thái bình.

Thoại tăng

話僧
少時我學子家邊,
我未為官子未禪。
自子雲遊我官去,
此間消息兩茫然。
不知車笠今何夕,
已是風塵二十年。
我已辭官又逅子,
看來俱未淨塵緣。

Thoại tăng
Thiếu thì ngã học tử gia biên,
Ngã vị vi quan tử vị thiền.
Tự tử vân du ngã quan khứ,
Thử gian tiêu tức lưỡng mang nhiên.
Bất tri xa lạp kim hà tịch,
Dĩ thị phong trần nhị thập niên.
Ngã dĩ từ quan hựu cấu tử,
Khán lai câu vị tịnh trần duyên.

Dịch nghĩa
Khi còn trẻ tôi học ở gần nhà anh,
Tôi chưa làm quan, anh cũng chưa học thiền.
Từ khi anh vân du, tôi cũng đi làm quan,
Trong thời gian đó tin tức về nhau đều mờ mịt.
Chẳng hiểu đêm nay là đêm gì mà kẻ xe người nón được gặp nhau,
Thấm thoắt trải gió bụi đã hai mươi năm rồi!
Tôi đã từ quan lại gặp anh,
Xem ra cả hai ta đều chưa sạch trần duyên.

Thu dạ châm thanh

秋夜砧聲
更深霜重晏裘輕,
四顧寒砧枕畔縈。
搗月高低侵角嚮,
隨風斷續半虫聲。
驚回戍婦襄城夢,
喚起征夫魏闕情。
一種幽愁消未得,
遠山何處又鐘鳴。

Thu dạ châm thanh
Canh thâm sương trọng Án cừu khinh,
Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh.
Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng,
Tuỳ phong đoạn tục bán trùng thanh.
Kinh hồi thú phụ Tương Thành mộng,
Hoán khởi chinh phu nguỵ khuyết tình.
Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc,
Viễn sơn hà xứ hựu chung minh.

Dịch nghĩa
Canh khuya sương nặng áo khoác nhẹ,
Bốn bề tiếng chày đập vải quanh quẩn bên gối.
Dưới trăng tiếng nghe cao thấp át cả tiếng tù và,
Theo gió đứt nối lẫn với tiếng côn trùng.
Khua tỉnh giấc mộng Tương Thành của người vợ lính mong chồng trở về,
Gợi dậy lòng ham muốn công danh của kẻ chinh phu.
Một thứ u sầu chưa tiêu tan được,
Từ núi xa nào đó lại có tiếng chuông ngân.

Thu dạ cùng thanh

秋夜蛩聲
一天星斗夜沉沉,
乍頂聲聲思不禁。
隔竹高低敲丙枕,
和霜斷續瀉滄音。
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
銷鐵橫秋男子操,
丁寧莫使入人深。

Thu dạ cùng thanh
Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm,
Hoà sương đoạn tục tả thương âm.
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,
Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Dịch nghĩa
Một trời đầy sao đêm thăm thẳm,
Bỗng có thanh âm nổi ran lên không ngừng.
Cách hàng trúc tiếng cao thấp đập vào gối,
Hoà với sương đứt nối nhỏ xuống tạo thành âm hưởng lạnh lẽo.
Cái sầu xâm nhập tiếng tù và của lính thú dưới trăng lúc canh ba,
Gợi lên lòng nhớ quê của người khách xa nhà.
Tiết tháo của người nam nhi ngập khung trời thu, làm tiêu chảy cả sắt,
Luôn luôn nhắc nhở không để cho cái sầu vào sâu trong lòng người.

Thu dạ hữu cảm

秋夜有感
山河寥落四無聲,
獨坐書堂看月明。
何處秋風吹一葉,
引來無限故園情。

Thu dạ hữu cảm
Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh,
Độc toạ thư đường khán nguyệt minh.
Hà xứ thu phong xuy nhất diệp,
Dẫn lai vô hạn cố viên tình.

Dịch nghĩa
Non sông bốn mặt lặng như tờ,
Một mình ngồi nơi nhà học ngắm trăng sáng.
Gió thu từ đâu thổi bay tới một chiếc lá,
Gợi lên biết bao nỗi niềm nhớ quê hương.

Thu nhiệt

秋熱
已過重陽氣尚溫,
含杯盡日倚柴門。
綠環水帶疑相束,
青染天衣不見痕。
風暑常如五六月,
雨雷遠入兩三村。
歸來遂我田園趣,
世事搔頭笑不言。

Thu nhiệt
Dĩ quá trùng dương khí thượng ôn,
Hàm bôi tận nhật ỷ sài môn.
Lục hoàn thuỷ đới nghi tương thúc,
Thanh nhiễm thiên y bất kiến ngân.
Phong thử thường như ngũ lục nguyệt,
Vũ lôi viễn nhập lưỡng tam thôn.
Quy lai toại ngã điền viên thú,
Thế sự tao đầu tiếu bất ngôn.

Dịch nghĩa
Đã qua tết trùng dương mà khí trời còn nóng,
Suốt ngày chỉ ngồi tựa cửa sài uống rượu.
Dòng nước biếc vây quanh như cái đai thắt lại,
Da trời xanh ngắt như chiếc áo không thấy vết khâu.
Nắng gió vẫn như ngày tháng năm tháng sáu,
Tuy có mưa sấm nhưng ở tận mấy làng xa.
Về nghỉ là được thoả cái thú điền viên của ta,
Còn mọi việc trên đời, có nghe thấy cũng chỉ gãi đầu mỉm cười không nói.

Thu sơn tiêu vọng

秋山霄望
八面村墟一嵿孤,
纔登萬象入中都。
風輕雲弄嫦娥影,
霧霽天高北斗樞。
品物一天金世界,
江山四顧玉輿圖。
霜鳴何處秋聲答,
喚起歐陽藻思蘇。

Thu sơn tiêu vọng
Bát diện thôn khư nhất đính cô,
Tài đăng vạn tượng nhập trung đô.
Phong khinh vân lộng Thường Nga ảnh,
Vụ tễ thiên cao Bắc Đẩu khu.
Phẩm vật nhất thiên kim thế giới,
Giang sơn tứ cố ngọc dư đồ.
Sương minh hà xứ thu thanh đáp,
Hoán khởi Âu Dương tháo tứ tô.

Dịch nghĩa
Giữa tám mặt xóm làng, một ngọn núi đứng trơ trọi,
Vừa leo lên thấy muôn vàn hình tượng hướng về chính giữa.
Gió nhẹ, mây giỡn bóng Hằng Nga,
Mù tan, trục Bắc Đẩu nhô cao trên vòm trời.
Đầy trời phẩm vật như một thế giới vàng,
Bốn mặt giang sơn như bản địa đồ ngọc.
Sương rơi thánh thót, tiếng thu ở đâu đáp lại,
Gợi dậy tứ văn đẹp đẽ của Âu Dương.

Thu tứ (I)

秋思
一聲蕭瑟動高梧,
去歲今朝景不殊。
霄漢虛空清未了,
斜陽煙水淡如無。
少陵亂後詩聲苦,
彭澤歸來酒興孤。
甚矣吾衰無一事,
出門聊復倩人扶。

Thu tứ (I)
Nhất thanh tiêu sắt động cao ngô,
Khứ tuế kim triêu cảnh bất thù.
Tiêu hán hư không thanh vị liễu,
Tà dương yên thuỷ đạm như vô.
Thiếu Lăng loạn hậu thi thanh khổ,
Bành Trạch quy lai tửu hứng cô.
Thậm hĩ ngô suy vô nhất sự,
Xuất môn liêu phục thiến nhân phù.

Dịch nghĩa
Tiếng xào xạc làm rung ngọn ngô đồng
Ngày nay, năm nay so với năm ngoái không có khác
Trời quang đãng xanh ngắt một màu
Dưới bóng chiều khói nước lạt như không
Thiếu Lăng từ khi gặp loạn lời thơ đau khổ
Bành Trạch về hưu rồi hứng rượu chỉ có một mình
Ngán nỗi thân ta suy yếu không làm được gì
Mà khi ra cửa lại phải nhờ người nâng đỡ

Thu tứ (II)

秋思
翠竹遶篱溪壑幽,
北雙獨坐對清秋。
狂吟何必千人誦,
縱飲難消萬古愁。
平野地寬先得月,
寒汀水淺不通舟。
迷途暗恨歸來晚,
一度江山一白頭。

Thu tứ (II)
Thuý trúc nhiễu ly khê hác u,
Bắc song độc toạ đối thanh thu.
Cuồng ngâm hà tất thiên nhân tụng,
Túng ẩm nan tiêu vạn cổ sầu.
Bình dã địa khoan tiên đắc nguyệt,
Hàn đinh thuỷ thiển bất thông châu.
Mê đồ ám hận quy lai vãn,
Nhất độ giang sơn nhất bạch đầu.

Dịch nghĩa
Tre xanh quanh giậu, khe ngòi êm tĩnh
Trước cửa sổ hướng bắc một mình ngồi ngắm thu trong
Thơ ngâm phiếm, không cứ gì phải hàng nghìn người đọc
Rượu uống tràn vẫn khó tan được mối sầu muôn thuở
Bãi bằng đất rộng được ngắm trăng sớm hơn
Bến lạnh nước nông thuyền không qua được
Đã trót lầm đường vẫn ân hận rằng quay về muộn quá
Cứ mỗi phen trải qua cảnh sông núi, lại một phen bạc đầu thêm

Thuỷ tiên

水仙
不知此子從何來,
冰玉天然乃爾裁。
座上置之一石海,
明朝忽見數花開。
并歸大賈將奚擇,
獨對衰翁殊可哀。
芳臭分明千載後,
隔墻桃李莫相猜!

Thuỷ tiên
Bất tri thử tử tòng hà lai,
Băng ngọc thiên nhiên nãi nhĩ tài.
Toạ thượng trí chi nhất thạch hải,
Minh triêu hốt kiến sổ hoa khai.
Tịnh quy đại cổ tương hề trạch,
Độc đối suy ông thù khả ai.
Phương xú phân minh thiên tải hậu,
Cách tường đào lý mạc tương sai!

Dịch nghĩa
Không biết gã này từ đâu đến đây
Trong như băng, trắng như ngọc thiên nhiên đúc nên như thế
Đặt vào chiếc bể đá để trên chỗ ngồi
Sáng ra bỗng thấy mấy bông hoa nở
Đem dồn cho bọn con buôn lơbs thì còn kén chọn gì
Một mình bạn với ông già ốm yếu cũng đáng ái ngại
Thơm thối rõ ràng dù nghìn năm sau
Cách tường đào mận đừng có ghen tị

Thư đường cảm thị

書堂感示
衣缽難忘且漫勞,
強將書籍教兒曹。
試觀所貴當何在,
縱為爭名也失操。
舊學至金猶爾爾,
末流從此亦滔滔。
皇天未果斯文喪,
為彈為輪付所遭。

Thư đường cảm thị
Y bát nan vong thả mạn lao,
Cưỡng tương thư tịch giáo nhi tào.
Thí quan sở quý đương hà tại,
Túng vị tranh danh dã thất thao.
Cựu học chí kim do nhĩ nhĩ,
Mạt lưu tòng thử diệc thao thao.
Hoàng thiên vị quả tư văn táng,
Vi đạn vi luân phó sở tao.

Dịch nghĩa
Nghề nghiệp trong nhà khó bỏ được ta hãy chịu khó vậy
Gượng đem sách vở dạy bảo các con
Thử xem điều đáng quý là ở chỗ nào
Nếu chỉ vì tranh dành lấy cái tiếng tức là bỏ mất chí hướng của mình
Đến bây giờ mà những người học cũ còn như vậy
Thì lớp người sau này sẽ cũng thế mà thôi
Trời chư hẳn làm mất lễ giáo của thánh hiền
Dù làm viên đạn làm bánh xe gặp sao hay vậy

Trên đây là những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến hay đặc sắc mà chúng tôi muốn chia sẻ và giới thiệu với bạn. Thông qua các bài viết này bạn sẽ hiểu thêm về các sáng tác của nhà thơ này. Từ đó cũng hiểu được tại sao đây lại là một nhà thơ nổi tiếng và được đại diện cho cả một phong trào thơ ca. Đừng quên đón đọc các bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật các bài thơ hay nhất bạn nhé!

Xem thêm: Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến hay đặc sắc phần 9


5/5


(1 Review)

Nhà Thơ Nổi Tiếng - Tags: