Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Phần ví dụ về các thể thơ mà chúng tôi giới thiệu dưới đây sẽ cung cấp cho bạn các thông tin chi tiết về cách gieo vần, số câu, số chữ. Từ đó bạn có thể hiểu thêm về các thể thơ, cũng như phân biệt được các thể thơ khác nhau. Có một điểm mà bạn cần chú ý là việc, thơ không giống văn. Thơ có vần rất rõ ràng chính vì vậy với mỗi thể thơ sẽ có cách gieo vần, các phần luật thơ khác nhau. Và chỉ khi nắm được các yếu tố này bạn mới có thể phân tích thơ một cách sâu sắc nhất.

Thể thơ lục bát

Lục bát là một thể thơ dân tộc với rất nhiều sáng tác văn chương nổi tiếng. Ở thể thơ này dấu hiệu nhận biết đặc trưng nhất chính là có sự kết hợp giữa câu 6 và câu 8. Trong đó chữ thứ 6 của câu 6 hiệp với chữ thứ 6 của câu 8. Còn chữ thứ 8 của câu 8 hiệp với chữ thứ 6 của câu 6. Dưới đây là một số bài thơ lục bát hay nhất để bạn tham khảo:

Mẹ – Trần Quốc Minh

Lặng rồi cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Ta yêu quê ta – Lê Anh Xuân

Yêu từng bờ ruộng, lối mòn
Đỏ tươi bông gạo, biếc rờn ngàn dâu.
Yêu con sông mặt sóng xao,
Dòng sông tuổi nhỏ rì rào hát ca.
Yêu hàng ớt đã ra hoa
Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.
Yêu sao tiếng mẹ ru nồng,
Tiếng thoi lách cách bên nong dâu tằm.

Mẹ tôi – Phạm Văn Ngoan

Con cò lặn lội bờ sông
Lam lũ nuôi chồng, nuôi cả đàn con
Tháng năm thân mẹ hao mòn
Sớm khuya vất vả, héo hon khô gầy.

Cho con cuộc sống hàng ngày
Dậy con khôn lớn dựng xây cuộc đời
Lẽ thường nước mắt chảy xuôi..
Vu lan nhớ mẹ, con ngồi lệ tuôn.

Biển khơi, nhờ có nước nguồn
Phận con chưa kịp đền ơn cao dầy
Tâm nhang, thấu tận trời mây
Cầu hương linh mẹ, tháng ngày thảnh thơi.

Cửu tuyền, mẹ hãy ngậm cười
Cha sinh, mẹ dưỡng, một đời tri ân

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Nhớ Việt Bắc – Tố Hữu

Ta về , mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quanh thù.
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Quê hương – Nguyễn Đình Huân

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Quê hương nỗi nhớ – Hoàng Thanh Tâm

Trở về tìm mái nhà quê
Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa
Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa
Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho

Tìm đàn trâu với con đò
Áo bà ba mẹ câu hò trên sông
Nón lá nghiêng nắng nước ròng
Miền quê khó nhọc con còng con cua

Lục bình tim tím mùa mưa
Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo
Khói lên cháy bếp nhà nghèo
Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi

Heo gà chạy ngược chạy xuôi
Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê
Cánh cò trắng xóa vọng về
Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên

Đậm đà ký ức giao duyên
Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao
Con dù biền biệt phương nào
Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Ảnh Bác – Trần Đăng Khoa

Nhà em treo ảnh Bác Hồ
Bên trên là một lá cờ đỏ tươi
Ngày ngày Bác mỉm miệng cười
Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà
Ngoài sân có mấy con gà
Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi
Em nghe như Bác dạy lời
Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa
Trồng rau, quét bếp, đuổi gà
Thấy tàu bay Mỹ nhớ ra hầm ngồi

Thể thơ song thất lục bát

Cũng như thể thơ lục bát, song thất lục bát cũng chính là một thể thơ dân tộc và được sử dụng khá phổ biến. Với thể thơ này có sự kết hợp giữa hai câu thất và một cặp lục bát. Qua đó có thể thể hiện được tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng như cảm hứng mà nhà thơ muốn chuyển tải.

Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn (trích)

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ.
Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)

rải vách quế gió vàng hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng,
Oán chi những khách tiêu phòng,
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.

Duyên đã may cớ sao lại rủi,
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang,
Vì đâu nên nỗi dở dang,
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nổi mình.

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hoá,
Vẽ phù dung một đoá khoe tươi,
Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,
Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung

Áng đào kiểm đâm bông não chúng,
Khoé thu ba rợn sóng khuynh thành,
Bóng gương lấp loáng trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.

Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn,
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa,
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.

Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương,
Cờ tiên rượu thánh ai đang,
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.

Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã,
Địch lầu thu đường gã Tiêu Lang,
Dẫu nghề tay múa miệng xang,
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị (Phan Huy Vịnh diễn Nôm)

Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.
Say những luống ngại khi hầu rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh.
Dời thuyền theo hỏi thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

Thể thơ Đường luật

Sẽ thật thiếu sót nếu trong các ví dụ về các thể thơ không có thể Đường luật. Đây là một thể thơ được sử dụng nhiều trong thơ văn xưa và nó được xây dựng dựa trên cơ sở của sự tiếp thu từ Trung Quốc. Với thể thơ này ta có thể thấy được những quy định chặt chẽ về thể thơ. Có một số thể thơ Đường luật phổ biến như: thất ngôn, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú đường luật.

Vọng nguyệt – Hồ Chí Minh

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Nguyên tiêu – Hồ Chí Minh

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Mời trầu – Hồ Xuân Hương

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Tẩu lộ – Hồ Chí Minh

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Thương vợ – Tú Xương

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!

Thể thơ tự do

Thể thơ tự do là một trong những thể loại và là sáng tác tiêu biểu nhất trong chùm thơ ca hiện đại. Với việc không cần phải tuân thủ theo niêm luật chặt chẽ đã giúp cho các bài thơ này đến gần hơn với độc giả. Bên cạnh đó nhà thơ cũng sẽ dễ dàng trong việc chuyển tải cảm xúc của mình. Với thể thơ tự do này, đã có nhiều nhà thơ thành công và được đông đảo độc giả yêu mến chính là Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa…

Tre xanh Việt Nam – Nguyễn Duy

Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Truyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay vin tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Cho dù thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho con
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Mới lên đã thẳng như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng, thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
Mai sau,
mai sau,
mai sau…
Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh!

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Đò lèn – Nguyễn Duy

Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ Đền Sòng.
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói củ giong riềng luộc sượng.
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
Lá thu Người đi tìm hình của nước

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – Nguyễn Khoa Điềm

Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội,
Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng.
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi,
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối,
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời:

– Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,
Mẹ thương a kay, mẹ thương bộ đội
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần,
Mai sau con lớn vung chày lún sân…

Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ đang trỉa bắp trên núi Ka–lưi
Lưng núi thì to, mà lưng mẹ nhỏ,
Em ngủ ngoan em, đừng làm mẹ mỏi.
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi,
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.

– Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,
Mẹ thương a kay, mẹ thương làng đói.
Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka–lưi…

Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng.
Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông,
Mẹ địu em đi để dành trận cuối.
Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường,
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.

– Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,
Mẹ thương a kay, mẹ thương đất nước.
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ,
Mai sau con lớn làm người Tự Do…

Một số thể thơ khác

Một số ví dụ về các thể thơ khác như 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ… cũng sẽ được chúng tôi giới thiệu để từ đó bạn có được hình dung bao quát nhất về hệ thống luật thơ trong thơ văn Việt Nam. Đa phần các thể thơ này không yêu cầu phải tuân thủ niêm luật chặt chẽ và tên gọi của thể thơ cũng chính là số chữ trong câu. Chính đặc điểm này sẽ giúp bạn dễ hình dung hơn.

Hạt gạo làng ta – Trần Đăng Khoa

Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay…

Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy…

Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mỹ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông…

Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quết đất

Hạt gạo làng ta
Gửi ra tiền tuyến
Gửi về phương xa
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta…

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Quyển vở của em – Quang Huy

Quyển vở này mở ra
Bao nhiêu trang giấy trắng
Từng dòng kẻ ngay ngắn
Như chúng em xếp hàng.

Lật từng trang, từng trang
Giấy trắng sờ mát rượi
Thơm tho mùi giấy mới
Nắn nót bàn tay xinh.

Ơi quyển vở mới tinh
Em viết cho sạch, đẹp
Chữ đẹp là tính nết
Của những người trò ngoan.

Cô giáo lớp em – Nguyễn Xuân Sanh

Sáng nào em đến lớp
Cũng thấy cô đến rồi
Đáp lời: Chào cô ạ!
Cô mỉm cười thật tươi.

Cô dạy em tập viết
Gió đưa thoảng hương nhài
Nắng ghé vào cửa lớp
Xem chúng em học bài.

Những lời cô giáo giảng
Ấm trang vở thơm tho
Yêu thương em ngắm mãi
Những điểm mười cô cho.

Ví dụ về các thể thơ để bạn hiểu thêm về cách gieo vần, số câu, số chữ

Nói với em

Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe thấy tiếng chim hay,
Tiếng lích chích chim sâu trong lá,
Con chìa vôi vừa hót vừa bay.

Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm cô Tấm rất hiền.

Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,
Tay bồng bế sớm khuya vất vả,
Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay.

Hy vọng qua phần ví dụ về các thể thơ mà chúng tôi giới thiệu với bạn trên đây bạn đã hiểu thêm về các thể thơ. Đó là cách gieo vần, số câu, số chữ trong bài. Để từ đó có thể cảm thụ thơ một cách sâu sắc và có cơ sở nhất. Bên cạnh đó qua các ví dụ này bạn cũng có thể tự sáng tác các bài thơ chuyển tải được tâm trạng và dấu ấn cá nhân mình. Hy vọng những kiến thức này đặc biệt hữu ích dành cho bạn và đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cập nhật các kiến thức, các bài thơ hay nhất nhé!

5/5 (1 Review)